Núi Nưa - căn cứ khởi nghĩa Bà Triệu năm 248

Núi Nưa còn gọi là núi Na Sơn - một dãy núi cao nhất ở vùng đồng bằng phía Nam Thanh Hóa. Theo sách Đại Nam nhất thống chí: “Núi Nưa tức Na Sơn ở huyện Nông Cống. Mạch núi từ phủ Thọ Xuân kéo đến, chạy dài vài ba mươi dặm, đến địa phận tổng Cổ Định thì nổi vọt lên nhiều ngọn, ngọn cao nhất là núi Nưa. Bên ngoài thì bốn dòng nước giao lưu, đỉnh núi có động. Tương truyền đời Hồ có người tiều phu ở ẩn học đạo, Hồ Hán Thương cho triệu người tiều phu ấy không chịu ra, Hán Thương bèn sai đốt núi” (1).

Huyệt đạo Am Tiên nhìn từ trên cao.(  Ảnh: Lê Hoàng )

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cũng viết: “Phủ Tĩnh Gia ở phía Tây Thanh Hóa. Huyện Nông Cống ở miền Thượng du, đất liền huyện Đông Sơn, phía Tây Nam có nhiều ngọn núi chập chồng vòng quanh, một chi nhánh Na Sơn chót vót đứng thẳng. Trong dãy núi này có nhiều ngọn kỳ lạ, động đẹp. Về cổ tích thì có đường đi tắt của ông lão kiếm củi. Thời Hồ Hán Thương, ở Na Sơn có ông lão kiếm củi ẩn cư trong động sâu. Sứ nhà Hồ mời ra giúp việc. Ông lão mời sứ vào, nhưng ông toàn nói chuyện chê trách việc làm của thời bấy giờ, chứ không chịu ra. Sứ giả về trả lời với Hán Thương. Hán Thương lại sai đi lần thứ hai thì thấy rêu mọc lan khắp cửa động, đường vào khi trước đã bị che lấp mất rồi. Hán Thương giận sai đốt núi thì chỉ thấy một con hạc đen vút lên trên không bay đi” (2).

Dãy núi Nưa có chiều dài tới gần 20 km từ Nông Cống đi Triệu Sơn, làm nên bức tường thành tự nhiên ở phía Đông Nam với một thung lũng rộng lớn chạy suốt từ Hợp Thành, Hợp Lý đến Thọ Tiến, Thọ Tân của huyện Triệu Sơn (cũ) và được khép lại ở mạn Đông Bắc bởi dãy đồi đất đỏ thấp tròn như những bát úp. Phía Đông núi Nưa là đồng bằng châu thổ đất đai màu mỡ, từ xa xưa đã là vùng dân tụ cư đông đúc.

Trong hệ thống núi Nưa, đỉnh núi Nưa của đất Cổ Định thuộc xã Tân Ninh là cao nhất. Vùng này ngày xưa có tên là Kẻ Nưa, còn gọi là Cổ Na. Thời Lê đổi là Cổ Ninh, sau đó đổi là Cổ Định. Từ 1954, xã Cổ Định đổi thành xã Tân Ninh thuộc huyện Nông Cống (cũ). Năm 1964, Tân Ninh chuyển về trực thuộc huyện Triệu Sơn. Từ tháng 7 năm 2025, vùng này thuộc 3 xã Tân Ninh, Trung Chính, Mậu Lâm.

Núi Nưa có cảnh đẹp thiên nhiên say đắm lòng người. Từ đỉnh núi có thể cảm nhận “Núi Na đã mọc chênh vênh / Cây um tùm nước long lanh khói mờ” hay “Trập trùng núi dựng trời Tây / Na Sơn một dải xuyên mây chín tầng”. Cảnh đẹp đó có thể thấy ở bất kể thời điểm nào trong ngày “Ban mai mây trắng nhởn nhơ đỉnh ngọn, lưng sườn”, “Chiều tà bốn mặt khói sương lồng” và đêm thu thì “Bóng nguyệt lờ đờ làn nước ánh”.

  1. Núi Nưa không chỉ là một thắng cảnh đẹp, với địa thế hiểm yếu của nó, đây còn là nơi được Bà Triệu chọn làm căn cứ khởi nghĩa. Bà có tên thật là Triệu Thị Trinh, cũng có sách viết là Triệu Ẩu. Bà quê huyện Quân Yên (vùng đất thuộc huyện Yên Định (cũ) tỉnh Thanh Hóa. Sách Lịch sử Việt Nam, tập 1 viết: “Bà Triệu hay nàng Trinh (Triệu Trinh Nương / Triệu Thị Trinh) của truyền thuyết dân gian, người miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân. Quân Yên, trái núi đó vẫn giữ nguyên tên gọi ấy cho đến tận ngày nay, đứng sừng sững bên bờ sông Mã gần ngã ba Bông thuộc địa phận xã Định Công của tỉnh Thanh Hóa. Dưới chân núi đó, khảo cổ học đã tìm thấy trên cánh đồng Nếp Bắc - một làng cổ thời Đông Sơn muộn một khu mộ táng cổ Đông Hán - Lục Triều ở Cồn Bạng, Cồn Chùa với rất nhiều trống đồng cổ loại I muộn. Khu làng, khu mộ ấy chính là đất quê hương Bà Triệu” (3).

Theo Từ điển Lịch sử Quân sự Việt Nam, khởi nghĩa Bà Triệu nổ ra vào năm 248, do Triệu Quốc Đạt khởi xướng chống lại ách thống trị nhà Ngô. Sau khi Triệu Quốc Đạt mất, Bà Triệu được suy tôn làm chủ tướng. Dưới sự chỉ huy của Bà, từ căn cứ núi Nưa, nghĩa quân tiến xuống đồng bằng, tiến công các quận huyện và quan lại nhà Ngô, giết tên Thứ sử Giao Châu, làm tan rã chính quyền đô hộ nhà Ngô ở đây. Sứ giả nhà Ngô thừa nhận “Cuộc khởi nghĩa của Triệu Ẩu đã làm toàn Giao Châu chấn động và Thứ sử Giao Châu mất tích” (4). 

Hoảng sợ trước sức mạnh và thanh thế của cuộc khởi nghĩa, nhà Ngô cử Lục Dận đem binh lực lớn sang Giao Châu để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Lục Dận vừa dùng binh lực áp đảo tiến đánh quân khởi nghĩa, vừa dùng vật chất dụ dỗ, mua chuộc, lung lạc một số nghĩa binh làm lực lượng khởi nghĩa suy yếu dần. Với tương quan lực lượng quá chênh lệch, sau trận quyết đấu ở căn cứ Bồ Điền (thuộc huyện Hậu Lộc), biết không thể thắng nổi quân Ngô, Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng. Khởi nghĩa Bà Triệu chấm dứt. 

Mặc dù tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng khởi nghĩa Bà Triệu là đỉnh cao trong phong trào đấu tranh của nhân dân Giao Châu chống ách đô hộ phong kiến phương Bắc ở thế kỷ III. Sau khi Bà Triệu mất, nhiều nơi ở Thanh Hóa đã lập đền thờ Bà. Theo thống kê, ít nhất có 5 địa phương có đền thờ gồm: Nông Cống 1, Triệu Sơn 2, Yên Định 1 và Hậu Lộc 1.

  1. Xung quanh núi Nưa thuộc vùng đất Cổ Định xưa có nhiều nơi còn lưu lại dấu tích và truyền thuyết liên quan đến cuộc khởi nghĩa Bà Triệu như: Trang Đồng Bể, tương truyền là ấp trại riêng của Bà Triệu. Vì vậy, quân Ngô gọi Bà là “Lệ Hải Bà Vương” nghĩa là Bà Vương xứ Đồng Bể - Đồng Biển; Trang Thu, là nơi tiếp nhận quân từ các nơi kéo về đầu quân cho Bà; Am Tiên (trên đỉnh núi Nưa), nơi Bà Triệu đóng Đại bản doanh; Khe Đá Bàn, nơi Bà Triệu và tướng lĩnh họp bàn việc đánh quân Ngô; Bờ Đồn, nơi tiền đồn của nghĩa quân; Động Cắm cờ, nơi cắm cờ của nghĩa quân; Hang Cắc cớ, tương truyền nơi Bà Triệu cất giấu kho vàng cướp được của quân Ngô; Xóm Ải, nơi cửa ải vào khu nghĩa quân; Khe ông Vạn, tương truyền là trạm tiền tiêu do tướng quân Trương Công Vạn chốt giữ; Bãi Áng, nơi thao diễn luyện tập của nghĩa quân; Mau Bưu, nơi giết nhiều quân Ngô; Cầu Thiều, nơi ăn mừng chiến thắng; Cò Đồng Cấu, nơi để kho gạo của nghĩa quân; Giếng Cô Tiên (trên đỉnh Am Tiên), tương truyền là nơi Bà Triệu tắm; Bùng Cổ ngựa, nơi cho ngựa của Bà Triệu uống và tắm; Bùng Voi đằm, nơi tắm cho voi của Bà Triệu; Làng Các, tương truyền là khu vực hậu cần của nghĩa quân…

Có thể nói, ở vùng đất Kẻ Nưa - Cổ Định - Tân Ninh, những tên làng, tên đất, tên sông, tên xứ, gò, đồng, khe, động, hang, bùng… chỗ nào cũng có truyền thuyết gắn liền với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu. Nhân dân vùng này vẫn truyền cho nhau câu ca: “Ngô thời phá tán, cá Na tam thập dư nhân, cơ hồ tận hẫy, tồn thập bát định”, nghĩa là thời giặc Ngô phá, Kẻ Nưa có hơn ba ngàn người, cơ hồ mất gọn chỉ còn 18 xuất định (5).  

     3. Di tích núi Nưa đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xếp hạng cấp quốc gia năm 2009 có tổng diện tích 527,59 ha với 12 điểm di tích ghi dấu ấn đậm nét của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu cùng những danh lam thắng cảnh nổi bật ở khu vực này. Đó là những di tích và địa điểm: Đền Nưa, Cửa Khâu, Đền Trình, Bằng Yên ngựa, Đền ngài Tu Nưa, Đồng Chợ Bụa, Khe Đá Bàn, U Chiêng, Khe ông Vạn, Am Tiên, Động Đào - Ao Hóp, Động Cắm cờ. Đáng chú ý trong cụm di tích này là:

      Ngọn núi Nưa: Theo sách Thanh Hóa tỉnh chí mô tả: “Mạch núi từ huyện Thọ Xuân thời cổ mà đến. Sườn núi quanh co suốt mấy chục dặm, đến đây mọc lên ngọn núi đá, chỗ um tùm và cao nhất tức chỗ núi ấy (ngọn núi Nưa). Phía ngoài có sông nhánh hợp lưu, giữa có động, thế núi trắc trở và sâu thẳm”. Đây là ngọn núi lớn và cao nhất ở vùng đồng bằng xứ Thanh. Với độ cao 398m so với mực nước biển, nên từ xa, ở vị trí nào trên trục đường tới đây, chúng ta đều có thể thấy ngọn núi Nưa hiện lên sừng sững như một bức trường thành. 

     Từ trên đỉnh núi Nưa, nhìn về mọi phía có thể thấy cảnh sắc xứ Thanh hiện ra như bức tranh thủy mặc với đủ màu sắc thật lung linh huyền ảo, quyến rũ du khách thập phương hội tụ về đây. Có lẽ vì thế mà di tích này không chỉ đơn thuần là di tích lịch sử - căn cứ khởi nghĩa Bà Triệu mà còn là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Thanh Hóa.

      Động Am Tiên, nằm trên đỉnh núi Nưa. Sách Thanh Hóa kỷ thắng viết “Trên đỉnh núi Na (tức núi Nưa) là Đền Am Tiên. Truyền thuyết liên quan đến thời nhà Hồ (1400-1407), chuyện một người An Nam không chịu cộng tác với những người cướp ngôi nhà Trần”. Đây là một khu đất bằng phẳng rộng hàng chục ha, cỏ cây hoa lá xanh tốt bốn mùa. Đặc biệt tại đây có mạch nước ngầm trong vắt chảy ra không bao giờ cạn, tạo thành một cái giếng tự nhiên, dân gian đặt tên là giếng Tiên, tương truyền là nơi Bà Triệu tắm. Xuống dưới độ vài trăm mét có một hồ nước thiên tạo, dân gian gọi là Ao Hóp, tương truyền là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho nghĩa quân khởi nghĩa Bà Triệu. Tại khu vực Am Tiên còn có Động Cắm cờ, là nơi dựng cờ tụ nghĩa ở Đại bản doanh nghĩa quân Bà Triệu. Kế đó là những ngọn đồi thấp liền dải có tên rất đặc biệt Động Chợ Bụa (nơi trao đổi vật phẩm của nghĩa quân, Bằng Yên Ngựa, nơi Bà Triệu dừng ngựa để quan sát, đồng thời cũng là đồn tiền tiêu của nghĩa quân. 

Trên đỉnh Am Tiên, không biết chính xác từ bao giờ, người ta đã dựng chùa, dựng đền tại đây. Chùa thì dân vẫn quen gọi là chùa Am Tiên, còn đền thì có Đền Vua Bà (thờ Bà Triệu) và Đền Tu Nưa (thờ vị đạo sĩ thời Hồ mà trên đã đề cập). Quanh khu vực Am Tiên, nhân dân còn thu nhặt được nhiều hiện vật bằng đá, gạch có niên đại thời Lê và thời Nguyễn. Đó là những bằng chứng chứng minh từ xa xưa đã tồn tại ở đây những công trình tôn giáo, tín ngưỡng. 

Đền Nưa nằm dưới chân núi Nưa thờ Bà Triệu (Vua Bà hoặc Chúa Ngàn Nưa). Đền nằm ở vị trí cao, rộng, thoáng đãng, phía trước có ao hồ tự nhiên. Đền có từ thời xa xưa. Thời Cần Vương để trả thù những nghĩa sĩ theo Tống Duy Tân, thực dân Pháp đã cho triệt phá và đốt hết làng Cổ Định trong đó có Đền Nưa. Cuối đời Vua Tự Đức, đền được dựng lại khá bề thế với 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Năm 1926, Vua Bảo Đại đến đây vãn cảnh, sau đó ông cho nghệ nhân ở Huế ra tu bổ toàn bộ phần mái và tẩu đao có kiến trúc giống Nghinh môn các lăng tẩm ở Huế. Những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ngôi đền bị bom Mỹ tàn phá gần như hoàn toàn, chỉ còn Nghinh môn với bốn tầng mái bề thế được làm từ thời Tự Đức vẫn còn khá nguyên vẹn. Năm 1993, xã sưu tầm được ngôi nhà cổ 5 gian, niên đại Minh Mạng thứ 19. Nhà được dựng trên nền móng của tiền đường cũ. Như vậy, toàn bộ đền Nưa chỉ có Nghinh môn là còn nguyên vẹn kiến trúc thời Nguyễn. Mặt trước và mặt sau Nghinh môn được trang trí những bức tranh sơn thủy với hình ảnh rồng, hoa lá, cá hóa rồng, cúc dây và hoa văn hình chữ thọ.

Mặt trước phía dưới Nghinh môn có hai tượng hổ chầu hai bên, trên hai cửa phụ là hai bức phù điêu nói về sự tích Am Tiên. Các cửa Nghinh môn xây cuốn vòm. Tầng hai có gác chuông, tầng 3, 4 bịt kín trên đó đắp tranh phù điêu. 

Nghinh môn đền Nưa có quy mô lớn với nhiều mảng phù điêu điển hình còn lại trên đất Thanh Hóa. Chính nó làm di tích thêm phần cổ kính và tăng giá trị của di tích.

4. Núi Nưa là khu di tích có giá trị không chỉ về lịch sử bởi nó ghi lại những dấu ấn của khởi nghĩa Bà Triệu - một cuộc khởi nghĩa lớn ở vùng xứ Thanh làm rạng danh truyền thống phụ nữ Việt Nam. Đây còn là một một danh thắng khá nổi tiếng có sức quyến rũ du khách thập phương đến chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn và tưởng nhớ các bậc tiền nhân có công với đất nước trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc. 

Thiếu tướng, TS Nguyễn Xuân Năng

Chú thích:

  1. Đại Nam nhất thống chí, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, H.1970, tr 232- 233.

2. Dẫn theo Lý lịch thắng cảnh núi Nưa - địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu, Ban Quản lý di tích danh thắng / Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập năm 2009, tr 3.

3. Lịch sử Việt Nam tập 1, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1991, tr 223. 

4, 5. Lý lịch di tích thắng cảnh núi Nưa - địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu, Tài liệu đã dẫn, tr 10, 12.

Top