Di sản biển đảo Việt Nam: Hồn cốt dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình

Bác Hồ thăm Đoàn Hải quân - đảo Vạn Hoa ngày 13-11-1962
“Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”
(Hồ Chủ tịch)
Biển đảo trong chiều sâu lịch sử dân tộc
Cha ông ta từ rất sớm đã hướng ra biển lớn, không chỉ để mưu sinh mà còn từ một tầm nhìn sinh tồn mang ý nghĩa chiến lược. Biển là nguồn sống, là tuyến giao thương, là không gian văn hóa, đồng thời là vành đai phòng thủ tự nhiên của quốc gia. Từ nhận thức ấy, qua nhiều thế hệ, dân tộc Việt Nam đã bồi đắp nên một truyền thống bền bỉ: Hướng biển, bám biển, làm chủ biển và quyết tâm bảo vệ biển. Từ những đoàn thuyền đánh cá cần mẫn nơi cửa biển đến những đội dân binh vượt trùng khơi làm nhiệm vụ; từ những cộng đồng ven biển bền gan bám làng, giữ nước đến những người lính hôm nay canh giữ đảo xa, tất cả hợp lại thành một mạch nguồn tinh thần xuyên suốt.
Mỗi chuyến ra khơi không chỉ là hành trình mưu sinh, mà còn là sự tiếp nối lịch sử. Mỗi con thuyền vươn sóng không chỉ mang theo nhịp sống của hôm nay, mà còn âm thầm khẳng định sự hiện diện của Việt Nam trên biển trời Tổ quốc. Vì thế, biển đảo không chỉ là phần lãnh thổ hiện hữu trên bản đồ, mà còn là không gian lắng đọng ký ức mở cõi, hun đúc bản lĩnh quốc gia và tôi luyện ý chí dân tộc qua nhiều giai đoạn lịch sử. Nói đến biển đảo Việt Nam là nói đến một phần cốt lõi của căn tính Việt Nam, nơi kết tinh sâu đậm lịch sử, chủ quyền và khát vọng trường tồn của dân tộc.
Năm 1961, khi đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Hải quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Lời căn dặn ngắn gọn ấy hàm chứa một tầm nhìn lớn. Trong đó có tình yêu đất nước, có ý thức chủ quyền và có sự nhận thức sâu sắc về giá trị chiến lược của biển đối với tương lai dân tộc. Biển không chỉ là tài nguyên thiên nhiên hay một không gian địa lý. Biển là không gian sinh tồn, là cánh cửa mở ra giao thương và hội nhập, là chân trời phát triển, đồng thời là tuyến đầu gìn giữ chủ quyền, danh dự và an ninh quốc gia.
Ngày nay, khi đất nước bước vào chặng đường phát triển mới, hội nhập sâu rộng hơn nhưng cũng đối diện với nhiều biến động phức tạp của thời cuộc, ý nghĩa của biển đảo càng trở nên rõ rệt. Không gian biển không chỉ gắn với phát triển kinh tế, thương mại, logistics, năng lượng hay an ninh lương thực, mà còn nâng đỡ vị thế quốc gia, mở rộng dư địa phát triển và góp phần giữ vững sự chủ động chiến lược của đất nước. Bởi vậy, gìn giữ biển đảo không chỉ là nhiệm vụ của hôm nay, mà còn là lời hứa với quá khứ và trách nhiệm đối với tương lai. Bảo vệ biển đảo không chỉ là bảo vệ đường bờ, đảo nổi, đảo chìm hay các công trình giữa biển khơi, mà còn là bảo vệ ký ức lịch sử, bảo vệ danh dự quốc gia, bảo vệ ý chí độc lập và bảo vệ chính hồn cốt của một dân tộc đã bao đời gắn bó với biển.
Biển đảo Việt Nam - một hệ di sản lớn của quốc gia
Biển đảo Việt Nam không thể chỉ được nhìn như một không gian tự nhiên hay một vùng giàu tài nguyên. Ẩn sau những lớp sóng, những ngư trường, tuyến hàng hải và hệ sinh thái biển là một hệ di sản lớn của quốc gia, nơi hội tụ nhiều tầng giá trị: Lịch sử, pháp lý, văn hóa, sinh thái và chiến lược. Chính sự đan cài ấy khiến biển đảo trở thành một trong những không gian giàu ý nghĩa nhất đối với sự tồn tại, phát triển và tương lai lâu dài của đất nước.
Trước hết, biển đảo là một di sản lịch sử - pháp lý đặc biệt thiêng liêng. Những châu bản triều Nguyễn, những thư tịch cổ, những tấm bản đồ qua nhiều thời kỳ, những ghi chép về đội Hoàng Sa, Bắc Hải cùng các hoạt động quản lý biển đảo của Nhà nước Việt Nam không chỉ là tư liệu lưu trữ. Đó là những chứng tích bền bỉ của một quá trình xác lập và thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình, có tổ chức qua nhiều thế hệ. Mỗi trang tư liệu, mỗi dấu vết còn lại đều như một sợi dây nối quá khứ với hiện tại, âm thầm mà vững chắc khẳng định rằng chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo không phải là một phát biểu cảm tính, mà là kết quả của cả một tiến trình lịch sử lâu dài, được minh chứng bằng thực tiễn quản lý và bằng ý chí nhà nước.
Biển đảo đồng thời cũng là một không gian văn hóa sâu dày. Ở đó có ký ức cộng đồng, có tín ngưỡng, có phong tục, có những nghi lễ truyền đời gắn với hành trình ra biển, giữ biển. Từ Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn đến tục thờ cá Ông, từ những câu hò của ngư dân miền biển đến các truyền tích về người đi giữ đảo không trở về…, tất cả đã bồi đắp nên một lớp trầm tích văn hóa độc đáo và giàu sức sống. Những giá trị ấy không hiện hữu như thành quách hay pháo đài, nhưng lại bền bỉ với thời gian bởi chúng sống trong lòng người, trong phong tục, tập quán và trong truyền thống cộng đồng.
Biển đảo còn lưu giữ một dạng di sản rất đặc biệt: Di sản công trình - hiện trường sống. Những đảo nổi, đảo chìm, những nhà giàn DK, ngọn hải đăng, mái chùa, lớp học, trạm xá cùng các công trình quốc phòng và dân sinh nơi đầu sóng ngọn gió không chỉ được dựng lên để đáp ứng những nhu cầu thực tế. Hơn thế, chúng là những dấu mốc sống động của sự hiện diện bền bỉ, của sức sống con người và của một ý chí không chịu khuất phục trước sự khắc nghiệt của biển khơi. Nơi ấy, chủ quyền không còn là một khái niệm trừu tượng, mà hiện diện rõ ràng trong từng mái nhà, từng ánh đèn, từng nhịp sống và trong hình ảnh những con người ngày đêm bám biển, giữ đảo.
Cùng với đó, biển đảo còn là một di sản sinh thái vô cùng quý giá, một kho tàng tự nhiên mà đất nước được thiên nhiên trao tặng. Những rạn san hô, thảm cỏ biển, nguồn lợi thủy sản, hệ sinh vật phong phú và các vùng sinh thái ven biển đa dạng tạo nên nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững. Nhưng giá trị của hệ di sản ấy không chỉ nằm ở lợi ích kinh tế hay tiềm năng khai thác. Sâu xa hơn, đó còn là phần vốn tự nhiên dành cho tương lai, là tài sản chung của nhiều thế hệ, đòi hỏi hôm nay chúng ta phải gìn giữ bằng trách nhiệm, bằng sự tỉnh táo và bằng một cam kết lâu dài đối với mai sau.
Tất cả những giá trị ấy làm cho biển đảo Việt Nam hiện lên như một hệ di sản lớn của quốc gia: Vừa là ký ức, vừa là hiện thực; vừa là lịch sử, vừa là chiến lược; vừa là nguồn lực phát triển, vừa là nơi kết tinh hồn cốt dân tộc. Vì lẽ đó, việc bảo vệ biển đảo không thể chỉ được nhìn từ lăng kính quân sự hay kinh tế đơn thuần. Biển đảo cần được tiếp cận như một chỉnh thể di sản của quốc gia, nơi lịch sử, văn hóa, con người, sinh thái và pháp lý gắn bó chặt chẽ, cùng nhau tạo nên sức mạnh tổng thể của Tổ quốc trên biển.
Hoàng Sa - ký ức không phai và chứng cứ không thể phủ nhận
Biển đảo Việt Nam không thể chỉ được nhìn như một không gian tự nhiên hay một vùng giàu tài nguyên. Ẩn sau những lớp sóng, những ngư trường, tuyến hàng hải và hệ sinh thái biển là một hệ di sản lớn của quốc gia, nơi hội tụ nhiều tầng giá trị: Lịch sử, pháp lý, văn hóa, sinh thái và chiến lược. Chính sự đan cài ấy khiến biển đảo trở thành một trong những không gian giàu ý nghĩa nhất đối với sự tồn tại, phát triển và tương lai lâu dài của đất nước.
Trong tâm thức dân tộc Việt Nam, Hoàng Sa chưa bao giờ chỉ là tên gọi của một quần đảo giữa Biển Đông. Đó là biểu tượng lắng sâu trong lịch sử chủ quyền dân tộc, là nơi kết tinh ý chí mở cõi, ý chí giữ nước và khát vọng vươn ra biển lớn của cha ông từ nhiều thế hệ. Hoàng Sa vì thế không chỉ hiện diện trên bản đồ, mà còn hiện diện trong ký ức lịch sử, trong tình cảm dân tộc và trong nhận thức thiêng liêng về phần máu thịt không thể tách rời của Tổ quốc.
Nhắc đến Hoàng Sa là nhắc đến một sự thật bền bỉ và không thể phủ nhận: Từ rất sớm, cha ông ta đã hướng ra biển lớn, từng bước xác lập, thực thi và gìn giữ chủ quyền bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh và bằng trách nhiệm quốc gia. Đó không phải là một dấu mốc nhất thời, mà là kết quả của cả một tiến trình lịch sử lâu dài, liên tục, được bồi đắp bằng công sức, ý chí và sự hiện diện thực tế của nhiều thế hệ người Việt trên vùng biển đảo của mình.
Ngay từ thời Chúa Nguyễn, đội Hoàng Sa đã được tổ chức và giao đảm nhiệm những công việc cụ thể như khai thác hải vật, đo đạc hải trình, tuần tra và quản lý vùng biển đảo này. Sự hiện diện của đội Hoàng Sa cho thấy nhận thức về chủ quyền biển đảo của Nhà nước Việt Nam không phải hình thành muộn màng hay ngẫu nhiên, mà đã được xác lập từ rất sớm bằng những hoạt động quản lý thực tế, rõ ràng và có tổ chức. Những ghi chép trong Phủ biên tạp lục, cùng nhiều thư tịch cổ, châu bản, bản đồ và địa chí qua các thời kỳ, không chỉ là tư liệu lịch sử quý giá mà còn là những chứng cứ đặc biệt quan trọng, cho thấy quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa đã diễn ra liên tục, hòa bình và có hệ thống trong suốt chiều dài lịch sử.
Nhưng Hoàng Sa không chỉ hiện diện trong những trang tư liệu. Hoàng Sa còn sống trong ký ức của nhân dân, trong mạch chảy văn hóa cộng đồng và trong tâm thức của những miền quê bao đời gắn bó với biển cả. Tiêu biểu hơn cả là Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn, một nghi lễ vừa linh thiêng, vừa thấm đẫm chiều sâu lịch sử. Trong từng con thuyền giấy, từng tấm linh vị, từng lời khấn nguyện trang nghiêm, bóng dáng những hùng binh năm xưa như trở về. Đó là những con người đã lặng lẽ lên đường giữa trùng khơi, mang theo sứ mệnh của quốc gia, đối mặt với hiểm nguy, bão tố và cả sự hy sinh để hoàn thành trách nhiệm mà Tổ quốc trao gửi.
Vì vậy, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa không chỉ là một phong tục dân gian hay một thực hành tâm linh của địa phương. Đó là một hình thức lưu giữ lịch sử bằng ký ức cộng đồng, là cách mà nhân dân truyền lại cho con cháu ý thức về chủ quyền, về sự hy sinh và về đạo lý đối với non sông. Ở đó, lịch sử không nằm yên trong sách vở, mà hiện diện trong cảm xúc, trong nghi lễ, trong niềm tri ân và trong lòng tự hào dân tộc.
Hoàng Sa vì thế là nơi hội tụ trọn vẹn hai nguồn sức mạnh làm nên chân lý chủ quyền của Việt Nam: Sức mạnh của chứng cứ lịch sử và sức mạnh của ký ức dân tộc. Một bên là hệ thống tư liệu bền bỉ cùng năm tháng, lặng lẽ mà vững vàng khẳng định quá trình xác lập và thực thi chủ quyền từ rất sớm; một bên là mạch nhớ cộng đồng chưa bao giờ đứt đoạn, vẫn được gìn giữ qua bao thế hệ trong đời sống tinh thần của nhân dân. Hai nguồn sức mạnh ấy hòa quyện vào nhau, soi sáng và nâng đỡ cho nhau, để Hoàng Sa không chỉ hiện lên như một thực thể địa lý giữa Biển Đông, mà còn trở thành biểu tượng thiêng liêng của ý chí chủ quyền bất diệt, của khí phách dân tộc và của một lịch sử không gì có thể xóa nhòa.
Trường Sa - nơi chủ quyền hiện hữu trong nhịp sống
Nếu Hoàng Sa là biểu tượng của chiều sâu lịch sử, thì Trường Sa là biểu tượng của hiện tại sống động và tương lai bền bỉ. Ở Trường Sa, chủ quyền không chỉ được khẳng định bằng tư liệu, mà còn được viết tiếp từng ngày bằng sự hiện diện cụ thể, kiên cường và lặng lẽ của con người Việt Nam giữa biển khơi.
Trường Sa không phải là một khoảng không gian hoang vắng giữa trùng khơi. Nơi ấy có mái nhà, có lớp học, có tiếng chuông chùa, có vườn cây xanh lên trong nắng gió, có trạm xá, có những công trình dân sinh và có cả tiếng trẻ thơ vang lên giữa biển trời. Ở đó hiện hữu một nhịp sống đời thường giản dị mà bền bỉ, nhịp sống của những con người đang ngày ngày dựng xây, gìn giữ và khẳng định sự sống trên từng điểm đảo.
Nơi ấy có những người lính lặng thầm ngày đêm canh giữ từng tấc đảo, từng bãi đá, từng cột mốc chủ quyền bằng ý chí kiên cường và tinh thần trách nhiệm không phút nào lơi nghỉ. Nơi ấy cũng có những người dân bền gan bám biển, bám đảo, chắt chiu từng điều kiện sống giữa muôn vàn thiếu thốn và nhọc nhằn. Chính sự hiện diện bền bỉ và sống động ấy khiến Trường Sa không chỉ là nơi được bảo vệ, mà còn là nơi được sống, được dựng xây và được gìn giữ bằng hơi thở, bằng nhịp sống và bằng tình yêu Tổ quốc mỗi ngày.
Nhưng Trường Sa không chỉ có sức sống. Nơi ấy còn lắng đọng những ký ức đau thương mà bi tráng của dân tộc, nơi mỗi tấc đảo, mỗi bãi đá dường như đều thấm đượm sự hy sinh và lòng quả cảm. Sự kiện Gạc Ma năm 1988 sẽ mãi là một dấu mốc không thể phai mờ trong lịch sử giữ nước bằng biển của dân tộc Việt Nam. Sáu mươi tư cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã anh dũng ngã xuống trong tư thế hiên ngang, bất khuất khi đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Các anh đã nằm lại giữa biển khơi, nhưng không hề lùi bước; đã hy sinh thân mình, nhưng ý chí giữ biển, giữ đảo của dân tộc từ đó lại càng được hun đúc mãnh liệt hơn.
Từ những mất mát ấy, lời thề giữ biển cất lên không chỉ như một lời tưởng niệm, mà còn như một lời hiệu triệu thiêng liêng vọng từ lòng biển, vọng vào trái tim của cả dân tộc: “… Chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc… Quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc…”. Đó không chỉ là lời thề của những người đang đứng nơi tuyến đầu sóng gió, mà còn là tiếng nói cất lên từ chiều sâu lương tri dân tộc, từ đạo lý biết ơn và từ trách nhiệm gìn giữ non sông. Trong lời thề ấy có nỗi đau của quá khứ, có ý chí của hiện tại và có cả lời nhắn gửi thiêng liêng với mai sau: Trường Sa phải mãi được gìn giữ bằng lòng trung thành, bằng bản lĩnh và bằng tình yêu nước không bao giờ phai.
Bởi vậy, Trường Sa không chỉ là một quần đảo ngoài khơi xa. Trường Sa là biểu tượng của bản lĩnh Việt Nam trong thời đại mới, nơi chủ quyền được hiện hình bằng đời sống, nơi lòng yêu nước được thử thách bằng hành động, nơi khí phách dân tộc được tiếp nối không phải bằng lời nói, mà bằng sự bền bỉ không mệt mỏi của những con người đang ngày đêm bám biển, giữ biển, dựng xây giữa biển.
(còn nữa)
Trung tướng, PGS.TS Lê Kim Cương

