Hồi hương cổ vật: Bài 2: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Ngày 17/4/2022, tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế tổ chức lễ tiếp nhận và trưng bày hai cổ vật hiến tặng qua đấu giá thành công ở nước ngoài của Tập đoàn Sunshine gồm Mũ quan đại thần và Áo Nhật bình cung tần triều Nguyễn (ảnh trên), có niên đại cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Ảnh - TTXVN
Cần chuyển sang phương thức chủ động, dài hạn và chuyên nghiệp
Trên thế giới, hồi hương di sản văn hóa là xu thế ngày càng mạnh. Nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược truy tìm, đàm phán và yêu cầu hoàn trả hiện vật bị đưa ra nước ngoài trong bối cảnh thuộc địa, chiến tranh hoặc buôn bán trái phép. Công ước UNESCO năm 1970 về các biện pháp cấm và ngăn chặn nhập khẩu, xuất khẩu, chuyển giao quyền sở hữu trái phép tài sản văn hóa đặt nền tảng cho hợp tác quốc tế trong phòng, chống buôn bán bất hợp pháp và thúc đẩy hoàn trả, phục hồi tài sản văn hóa. Các tổ chức như UNESCO, ICOM, INTERPOL và cơ quan Hải quan quốc tế cũng phát triển nhiều công cụ, cơ sở dữ liệu, khuyến nghị và chương trình đào tạo nhằm hỗ trợ các quốc gia nhận diện, ngăn chặn và xử lý việc mua bán trái phép di sản.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ba yếu tố quyết định thành công: Một là, hồ sơ nguồn gốc phải đủ mạnh. Muốn yêu cầu hoàn trả hoặc đàm phán hiệu quả, quốc gia yêu cầu cần chứng minh được mối liên hệ giữa hiện vật với lãnh thổ, cộng đồng, di tích, lịch sử hoặc hồ sơ lưu trữ của mình; đồng thời làm rõ dấu hiệu thất thoát bất hợp pháp nếu có. Hai là, phải có cơ chế phối hợp nhanh giữa cơ quan văn hóa, ngoại giao, tư pháp, công an, hải quan, bảo tàng và chuyên gia. Ba là, phải kết hợp giữa lập luận pháp lý và lập luận đạo lý. Có những trường hợp khó chứng minh bằng tư liệu pháp lý đầy đủ, nhưng vẫn có thể vận động hoàn trả, chuyển giao hoặc hợp tác trưng bày dựa trên giá trị biểu tượng, quan hệ hữu nghị và trách nhiệm đạo đức của các thiết chế đang nắm giữ hiện vật.
Bài học cho Việt Nam là không nên chỉ tiếp cận hồi hương cổ vật theo hướng “có hiện vật xuất hiện thì xử lý vụ việc”, mà cần chuyển sang phương thức chủ động, dài hạn và chuyên nghiệp. Việt Nam cần lập cơ sở dữ liệu di sản ở nước ngoài, phân nhóm theo mức độ ưu tiên, xây dựng hồ sơ sẵn cho các hiện vật hoặc nhóm hiện vật quan trọng, duy trì kênh liên lạc với bảo tàng và nhà đấu giá quốc tế, đồng thời đào tạo đội ngũ có khả năng làm việc bằng ngoại ngữ, pháp lý và nghiệp vụ thị trường nghệ thuật. Khi có nền tảng dữ liệu và quan hệ quốc tế đủ tốt, cơ hội hồi hương sẽ không chỉ đến từ đấu giá, mà còn từ hiến tặng, trao đổi, mượn dài hạn, hợp tác triển lãm và các thỏa thuận song phương.

Tượng đồng Nữ thần Durga, có nguồn gốc từ Việt Nam do Bộ Tư pháp và Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ phối hợp với Cảnh sát thành phố London, Vương quốc Anh, tịch thu được từ một vụ điều tra buôn bán cổ vật bất hợp pháp và đã trao trả về Việt Nam. Ảnh - TTXVN
Giải pháp hoàn thiện chính sách hồi hương cổ vật
Thứ nhất, xây dựng chiến lược quốc gia về hồi hương di sản văn hóa. Chiến lược này cần xác định rõ mục tiêu, phạm vi, nguyên tắc, tiêu chí ưu tiên, cơ quan chủ trì, cơ chế phối hợp và nguồn lực thực hiện. Không thể hồi hương tất cả cổ vật Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian ngắn, vì vậy cần lựa chọn trọng tâm: hiện vật có giá trị đặc biệt, có ý nghĩa biểu tượng quốc gia, liên quan đến chủ quyền, liên quan đến các giai đoạn lịch sử quan trọng, có nguy cơ bị thất tán hoặc có điều kiện pháp lý thuận lợi. Chiến lược cũng cần phân biệt các phương thức hồi hương: mua, nhận hiến tặng, chuyển giao, yêu cầu hoàn trả, mượn dài hạn, hợp tác trưng bày và số hóa. Mỗi phương thức cần có quy trình riêng nhưng thống nhất trong một đầu mối điều phối chung.
Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cổ vật Việt Nam ở nước ngoài. Cơ sở dữ liệu cần tích hợp thông tin từ bảo tàng, viện nghiên cứu, thư viện, kho lưu trữ, nhà đấu giá, bộ sưu tập tư nhân, học giả, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các nguồn mở. Mỗi hồ sơ nên bao gồm hình ảnh, mô tả, niên đại, chất liệu, kích thước, tình trạng, địa điểm lưu giữ, lịch sử sưu tầm, tài liệu tham chiếu, tình trạng pháp lý, mức độ ưu tiên và đề xuất phương án xử lý. Cần ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, nhận dạng hình ảnh, bản đồ hóa dữ liệu và chuẩn mô tả hiện vật quốc tế để thuận lợi cho việc chia sẻ thông tin với chuyên gia, cơ quan Hải quan, Cảnh sát, bảo tàng và tổ chức quốc tế.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế pháp lý và quy trình phản ứng nhanh. Các quy định mới của Luật Di sản văn hóa cần được cụ thể hóa bằng nghị định, thông tư và quy trình nghiệp vụ rõ ràng. Cần xác định thẩm quyền của cơ quan chủ trì trong việc lập danh mục, thuê chuyên gia, thẩm định giá, quyết định tham gia đấu giá, đàm phán mua lại, tiếp nhận hiến tặng, nhập khẩu hiện vật và quản lý tài sản sau khi về nước. Đối với những trường hợp khẩn cấp, chẳng hạn hiện vật sắp được bán đấu giá hoặc có nguy cơ chuyển nhượng sang chủ sở hữu khó tiếp cận, cần có cơ chế rút gọn nhưng vẫn bảo đảm minh bạch và kiểm soát rủi ro. Đồng thời, cần tăng cường quy định về truy xuất nguồn gốc, ngăn chặn mua bán trái phép, phối hợp Hải quan và thực thi pháp luật.

Bàn gỗ trang trí hình rồng, phụng, dây hoa lá cúc được sơn son thếp vàng. Mặt bàn bằng sứ trắng men lam, trang trí hồi văn chữ thọ và phong cảnh và cặp ngà voi dựng trên đế gỗ chạm nổi hình rồng, sơn thếp ngũ sắc niên đại 1802-1945 được Việt kiều Pháp tặng năm 1998 và năm 2002. Ảnh - TTXVN
Thứ tư, thiết lập quỹ và cơ chế tài chính bền vững. Hồi hương cổ vật là hoạt động đặc thù, có khi cần chi phí lớn trong thời gian ngắn. Vì vậy, ngoài ngân sách nhà nước, cần nghiên cứu hình thành quỹ hỗ trợ hồi hương di sản văn hóa Việt Nam hoặc cơ chế tài chính chuyên biệt nằm trong Quỹ Bảo tồn di sản văn hóa. Quỹ này có thể tiếp nhận đóng góp của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, kiều bào và nguồn hợp pháp khác; đồng thời có cơ chế công khai về mục tiêu, danh mục ưu tiên, nguyên tắc sử dụng, kết quả mua hoặc tiếp nhận hiện vật. Để khuyến khích xã hội hóa, cần có chính sách vinh danh, ưu đãi phù hợp, ghi nhận quyền đặt tên nhà tài trợ trong khuôn khổ trưng bày, nhưng vẫn bảo đảm hiện vật thuộc quyền quản lý đúng quy định và phục vụ lợi ích công cộng.
Thứ năm, phát triển đội ngũ chuyên gia và mạng lưới đối tác quốc tế. Việt Nam cần đào tạo và kết nối chuyên gia về khảo cổ học, mỹ thuật cổ, lịch sử, Hán Nôm, Chăm Pa, cung đình, bảo quản, giám định chất liệu, luật quốc tế, thị trường nghệ thuật và truyền thông di sản. Mạng lưới này phải có khả năng đánh giá nhanh giá trị hiện vật, xác định tính xác thực, phân tích rủi ro pháp lý và đề xuất phương án phù hợp. Cần duy trì quan hệ thường xuyên với UNESCO, ICOM, INTERPOL, bảo tàng lớn, viện nghiên cứu, nhà đấu giá, trường đại học và tổ chức nghề nghiệp quốc tế. Việc hợp tác không chỉ nhằm đòi lại hiện vật, mà còn để chia sẻ thông tin, đào tạo nhân lực, tổ chức triển lãm, nghiên cứu chung và nâng cao vị thế của di sản Việt Nam trong không gian văn hóa thế giới.

Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM tiếp nhận 236 tác phẩm, tư liệu của họa sĩ Lê Bá Đảng từ Paris và Les Issambres do ông bà Lê Tất Luyện - Thụy Khuê (Việt kiều Pháp) hiến tặng. Nguồn: tuoitre.vn
Thứ sáu, nâng cao năng lực bảo quản và phát huy giá trị sau hồi hương. Hồi hương chỉ là bước đầu; nếu hiện vật sau khi về nước không được bảo quản, nghiên cứu và giới thiệu đúng cách thì giá trị xã hội của việc hồi hương sẽ bị hạn chế. Các bảo tàng cần được đầu tư kho bảo quản đạt chuẩn, thiết bị kiểm soát môi trường, hệ thống an ninh, phòng trưng bày chuyên đề, nhân lực phục chế và cơ sở dữ liệu số. Mỗi hiện vật hồi hương nên được lập hồ sơ khoa học đầy đủ, công bố thông tin phù hợp, tổ chức trưng bày gắn với câu chuyện lịch sử, giáo dục di sản cho học sinh, sinh viên và công chúng. Cần kết hợp trưng bày trực tiếp với triển lãm số, mô hình 3D, phim tài liệu, xuất bản phẩm, bài giảng mở và sản phẩm du lịch văn hóa để hiện vật thực sự trở thành nguồn lực phát triển.
Thứ bảy, đẩy mạnh truyền thông và huy động cộng đồng. Một chính sách hồi hương cổ vật thành công cần sự ủng hộ của xã hội. Truyền thông không nên chỉ đưa tin khi có một hiện vật được mua hoặc trao tặng, mà cần xây dựng nhận thức dài hạn về giá trị của di sản, trách nhiệm chống buôn bán trái phép và niềm tự hào văn hóa. Cần phát triển các chiến dịch truyền thông với thông điệp dễ hiểu, kể câu chuyện hấp dẫn về hành trình của hiện vật, vinh danh những cá nhân và tổ chức đóng góp, đồng thời khuyến khích người dân cung cấp thông tin về cổ vật Việt Nam ở nước ngoài. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng vì họ có điều kiện tiếp cận bảo tàng, thị trường nghệ thuật, học giả và nhà sưu tập tại nước sở tại. Nếu được kết nối bằng cơ chế phù hợp, cộng đồng này có thể trở thành “mạng lưới đại sứ di sản” hỗ trợ phát hiện, vận động, tài trợ và quảng bá văn hóa Việt Nam.
| Hồi hương cổ vật là một nhiệm vụ lâu dài, khó khăn nhưng có ý nghĩa đặc biệt đối với bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam. Trong mỗi cổ vật lưu lạc ở nước ngoài có một phần câu chuyện của dân tộc: câu chuyện về bàn tay tài hoa của nghệ nhân, về đời sống tinh thần của cộng đồng, về giao lưu văn hóa, về biến động lịch sử và về sức sống bền bỉ của bản sắc Việt Nam. Đưa cổ vật về nước không chỉ nhằm lấp đầy khoảng trống trong các bộ sưu tập bảo tàng, mà còn là hành động khẳng định trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với quá khứ và tương lai. |
PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng

