Các loại hình mặt bằng kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long

Hình 1. Dấu tích mặt bằng hình chữ nhật
1. Mặt bằng hình chữ nhật
Đây là loại mặt bằng đa dạng và nhiều dị biệt nhất, bao gồm cả các dấu tích hình gần vuông. Vì vậy phân loại “hình chữ nhật” (chính xác hơn là hình tứ giác), chỉ là mô tả theo hình dạng mặt bằng, gộp chung nhiều công trình khác nhau cả về công năng lẫn kết cấu.
Số gian của các công trình dạng này không thống nhất. Bên cạnh lối nhiều gian lẻ quen thuộc (9 gian, 11 gian, 13 gian) còn gặp cả công trình có số gian chẵn (4 và 8 gian). Biên độ quy mô cũng rất rộng: Có những công trình chỉ vài mét mỗi chiều, có công trình dài 40m (B.KT35); 71,5m (D.KT10); 83m (A.KT22) thậm chí dài tới 109m (B.KT09).
Những sai biệt ấy chứng tỏ nhiều công năng kiến trúc. Trong đó, những di tích hẹp ngang và tỉ lệ chiều dài vượt gấp nhiều lần chiều rộng, nhiều khả năng là những hành lang nối các kiến trúc khác với nhau.
Về phương vị, 28 di tích nằm theo trục Bắc - Nam, 10 di tích theo trục Đông - Tây, một di tích (D.KT53) chưa xác định.
2. Mặt bằng hình lục giác
Loại hình lục giác xuất hiện ở hai khu vực: 11 di tích ở phía Tây khu A (ký hiệu HTTL.LY.A.KT15), và 03 di tích ở phía Tây hố D6 (ký hiệu HTTL.LY.D.KT49). Hai nhóm này có cùng phương vị, chạy theo chiều Đông - Tây, song song và cách nhau 209,4m. Trong mỗi nhóm, các di tích thẳng hàng theo chiều Bắc - Nam.
Một số di tích thuộc HTTL.LY.A.KT15, ngoài các Hố móng cột còn bảo tồn được Bó nền bằng gạch chữ nhật xếp đứng tạo thành vòng tròn đường kính 4,2m, bên ngoài lát gạch vuông hoặc chữ nhật.
Mặt bằng các di tích dạng này thống nhất một kiểu: 06 Hố móng cột hình tròn vây quanh một Hố móng cột vuông ở chính giữa. Phạm vi xuất lộ Hố móng cột trong mỗi kiến trúc có giãn cách 3,5m - 4,2m; các Hố móng cột tròn có đường kính trung bình 1,1m, cách đều nhau 1,35m; Hố móng cột ở giữa vuông 1,1 x 1,1m. Khoảng cách trung bình giữa các công trình từ 7,8m đến 8,7m; Riêng nhóm thuộc khu A, khoảng cách từ HTTL.LY.A.KT15-3 đến HTTL.LY.A.KT15-4 tới 12m.

Hình 2. Dấu tích mặt bằng hình lục giác và phục dựng AI
3. Mặt bằng hình bát giác
Loại hình này chỉ có 01 di tích, được xác định qua các dấu tích Móng nền, Hố móng cột, Bó nền và Nền gạch phía Tây (Hình 4, Bv.11, Ba.29-30).
Quy mô mặt bằng do 17 Hố móng cột xác định, phân bố thành các cặp đối xứng qua Hố móng cột ở chính giữa, hợp thành hình tám cạnh - cơ sở của tên gọi “bát giác”. Khoảng cách từ Tâm Hố móng cột ngoài cùng đến hàng Hố móng cột bên trong trung bình 3,30m; từ hàng Hố móng cột trong đến Hố móng cột chính giữa trung bình 7,0m. Hố móng cột trung bình dài 1,9m x rộng 1,9m; Hố móng cột chính giữa lớn nhất, 2,4m x 2,4m. Bề rộng các cạnh lần lượt 5,71m (cạnh trong) và 8,23m (cạnh ngoài).

Hình 3. Dấu tích mặt bằng hình bát giác
4. Mặt bằng hình tròn
Loại hình tròn cũng chỉ có một di tích, phát hiện tại khu G trong cuộc khai quật năm 2012 - 2014, gồm ba bộ phận: một kiến trúc trung tâm và hai kiến trúc phụ đối xứng ở phía Đông và phía Tây.
Kiến trúc trung tâm dựng bằng các cọc gỗ dài trung bình 4,1m, đường kính 0,14m, ken dày liên tiếp và buộc chặt với nhau bằng dây mây. Lòng trong đặt bốn thanh gỗ (trung bình dài 185cm, rộng 30cm, dày 26cm) ghép thành hình vuông, liên kết bằng mộng khớp. Chính giữa là một khối đá lớn, mặt trên khoét lõm hình tròn đường kính 0,66m, sâu 0,30m. Cách mặt khung gỗ 1,1m và 1,58m xuống dưới còn hai lớp gỗ khác, có thể dùng để kê đỡ khối đá bên trên.
Chính hướng Nam có đường dẫn dài 5,62m, thoải dần từ phía Nam vào lòng kiến trúc. Phía Tây đường dẫn còn dấu vết 15 cọc gỗ tròn đóng ngay ngắn.
Bao quanh kiến trúc trung tâm là hai hàng các lỗ chân cột tạo thành 2 vòng tròn đồng tâm. Vòng trong đường kính 8,47m, gồm 16 lỗ cột, kích thước trung bình dài 0,90m x rộng 0,60m x sâu 0,63m, cách nhau 0,70m - 0,90m. Vòng ngoài đường kính 13,22m, mới lộ 11 lỗ chân cột, kích thước dài 1,10m x rộng 0,62m x sâu 0,75m, cách nhau trung bình 1,50m - 1,75m. Chính hai vòng cột đồng tâm này tạo nên hình dạng mặt bằng hình tròn, dù lõi trung tâm là một khung gỗ vuông.
Hai kiến trúc phụ nằm đối xứng, cách đều Tâm của kiến trúc trung tâm 9,6m về phía Đông và phía Tây, có kết cấu tương tự nhưng quy mô nhỏ hơn và làm hoàn toàn bằng gỗ. Kiến trúc phía Đông đã phát lộ toàn bộ: chiều Bắc - Nam 1,55m, chiều Đông - Tây 1,0m, xung quanh có 18 cọc gỗ nhỏ đóng thành hình gần tròn; chính giữa là bốn thanh gỗ đặt theo hai chiều Đông - Tây và Nam - Bắc, liên kết bằng mộng ghép, tâm là khối gỗ lõm tròn đường kính 0,3m. Kiến trúc phía Tây bị phá hủy nhiều, một phần còn nằm trong vách hố khai quật nhưng phần đã xuất lộ cho thấy quy mô và kết cấu tương tự kiến trúc phía Đông.

Hình 4. Dấu tích mặt bằng hình tròn
| Như vậy, phân loại theo hình dạng mặt bằng công trình chưa thể giúp khẳng quyết về chức năng các kiến trúc. Trên các mặt bằng hình chữ nhật/tứ giác có lẽ từng được dựng rất nhiều kiến trúc với các công năng rất khác nhau: Các mặt bằng còn bảo lưu đầy đủ các Hố móng cột của các loại Cột khác nhau đã từng tồn tại các Cung, Điện… Còn trên mặt bằng hình chữ nhật dài, lại chỉ có 02 hàng Hố móng cột thì chỉ có thể dựng các Hành lang. Các mặt bằng hình lục giác, bát giác và nhất là hình tròn nhiều khả năng thuộc nhóm công trình có chức năng riêng, có thể mang tính nghi lễ, tôn giáo. Cần nhắc lại là các dấu vết mặt bằng hình lục giác không tồn tại độc lập mà là một tập hợp, hình thành một dãy liên tiếp, lại gần với các dòng chảy cổ. Vì vậy, có thể đây là các Lầu gác thưởng ngoạn có tính chất cung đình. Đặc biệt, mặt bằng hình tròn ở khu G là trường hợp cần khảo cứu riêng. Bố cục phức tạp của cụm công trình ở đây không gặp lại ở bất kỳ di tích nào trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Chức năng của nó không thể xác định chỉ từ dấu vết kiến trúc, mà phải đối chiếu với kiến trúc nghi lễ, tôn giáo trong và ngoài khu vực, cùng nguồn thư tịch cổ. Ở phạm vi tư liệu hiện có, bài viết dừng ở mô tả và nhận định sơ bộ. Kết quả khai quật đến nay vẫn còn ba giới hạn: Một: 20 trong 39 mặt bằng hình chữ nhật chưa xuất lộ hết; Hai: Niên đại mới được xác định ở mức tương đối, theo địa tầng; và Ba: Chưa huy động tư liệu so sánh cùng thư tịch. Định hướng tương ứng là: 1- Tiếp tục khai quật trọn vẹn các mặt bằng hình chữ nhật. 2- Lấy mẫu định niên đại tuyệt đối cho các kết cấu gỗ ở khu G, và 3-Khảo cứu riêng loại mặt bằng hình tròn trong đối sánh với kiến trúc nghi lễ Đại Việt và khu vực. |
TS. Phạm Văn Triệu
Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

