Các thành phần của kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long
Ảnh 1: Đất đắp Nền và Móng nền
Theo đó, các thành phần của kiến trúc thời Lý gồm:
1. Móng nền, Nền, Bó nền và Mặt nền
1.1. Móng nền: Tất cả các di tích kiến trúc thời Lý trước khi xây dựng đều được đắp Móng nền phủ đè lên toàn bộ tầng văn hóa các thời kỳ trước (Đại La và Đinh - Tiền Lê). Các Móng nền có độ dày trung bình từ 0,6m trở lên. Dấu tích nguyên vẹn nhất gồm hai lớp, dày tới 2,2m. Vật liệu đắp Móng nền là đất sét thuộc hai hệ địa tầng: hệ Vĩnh Phúc (đất có màu vàng, nâu đỏ, trắng, xám vàng và các kết vón laterit, độ sâu 6 - 7m) và hệ Hải Hưng (đất xám xanh, các thành tạo aluvi cát-bột màu nâu, độ sâu 1,0 - 4,5m). Đất sét được đầm chặt, thuần - không xen lẫn các vật liệu khác.
Lớp đất sét đắp Nền kiến trúc phủ đè lên lớp Móng nền bên dưới có độ dày từ 0,5m trở lên. Không dễ để xác định lớp đất này, phần do bị
phá hủy, phần do quá tương đồng với chủng loại đất đắp Móng nền. Riêng ở các di tích được ký hiệu HTTL.LY.G.KT03 và HTTL.LY.G.KT04, lớp đất đắp nền dày 1,15m được ngăn cách với Móng nền bằng một lớp sỏi cuội mỏng 0,02m. (Ảnh 1)
1.2. Móng bó nền và Bó nền : Nền của các kiến trúc thời Lý đã được bảo vệ và giới hạn phạm vi nhờ hai bộ phận: Móng bó nền nằm bên dưới và Bó nền nằm bên trên. Trong số 55 di tích, có 14 di tích còn nhận diện được Móng bó nền và 19 di tích còn dấu tích Bó nền. Mười hai di tích không có cả hai bộ phận này - tất cả đều thuộc loại kiến trúc quy mô nhỏ (2 gian 2 chái); 23 di tích còn lại phần này đã bị phá hủy hoàn toàn.
Ảnh 2-3-4: Ba loại Móng bó nền
- Móng bó nền có ba loại, khác nhau về vật liệu gia cố: Loại 1 dùng sỏi (Ảnh 2), loại 2 thay sỏi bằng mảnh ngói vỡ (Ảnh 3), loại 3 dùng mảnh đồ sành hoặc bao nung trộn/đầm cùng đất sét (Ảnh 4).
Ảnh 5-6: Hai loại Bó nền
- Bó nền có hai loại, cũng khác nhau về vật liệu: Loại 1 xây bằng gạch (16/19 di tích), gồm gạch chữ nhật còn nguyên hoặc vỡ, các mảnh gạch vuông, một số có trang trí hoa sen. Bề mặt Bó nền rộng 0,2 - 0,39m, cao 0,1 - 0,4m (Ảnh 5). Loại 2 kết hợp gạch và gỗ, tiêu biểu ở di tích HTTL.LY.G.KT03, HTTL.LY.G.KT04, có phần kiên cố hơn: gồm hai lớp - lớp ngoài là các thanh gỗ dài 14,2m xếp thẳng hàng, cách nhau 0,5m; lớp trong là cọc gỗ và các hàng mảnh gạch chữ nhật xen kẽ, cọc gỗ đóng cách nhau 0,3m, giữa các cọc là 5 - 8 lớp mảnh gạch vỡ (Ảnh 6).
Ảnh 7: Mặt nền lát gạch vuông
1.3. Mặt nền của các kiến trúc hầu hết không còn nguyên vẹn. Dựa trên những gì còn lại, có thể thấy Mặt nền kiến trúc thời Lý được lát bằng gạch vuông (Ảnh 7).



Ảnh: 8-9-10: Móng cột Vuông, Chữ nhật và Tròn
2. Hố móng cột và Chân tảng
2.1. Hố móng cột được tìm thấy ở tất cả 55 di tích. Do toàn bộ phần kết cấu gỗ phía trên đã bị phá hủy, Hố móng cột là cơ sở duy nhất để phục dựng quy mô và kết cấu mặt bằng các kiến trúc.
Theo loại hình, Hố móng cột được phân thành ba loại: hình vuông, hình chữ nhật và hình tròn. Loại hình vuông phổ biến nhất, kích thước trung bình 1,2 - 1,35m (Ảnh 8). Loại hình chữ nhật có chiều dài gấp đôi chiều rộng (trung bình 2,4 × 1,2m), đủ để đặt hai Chân tảng (Ảnh 9). Móng cột hình tròn chỉ gặp ở 14 di tích “Lầu lục giác”, đường kính 1,0 - 1,2m (Ảnh 10).
Ảnh 11: Chân tảng chạm hoa sen
2.2. Chân tảng chỉ còn ở 7/55 di tích, đều được chế tác từ đá cát kết (sa thạch). Theo hình dáng, kỹ thuật chế tác và trang trí, Chân tảng được phân thành ba loại, phản ánh rõ về vị trí và chức năng.
- Loại 1: Chân tảng chạm hoa sen: Phần trên (nổi trên nền gạch) hình vuông, kích thước 0,65 - 0,74m, dày 0,07m, được chạm hoa sen cánh kép với hai lớp cánh; cánh sen thon dài, mũi nhô cao, kích thước 0,11 - 0,12m × 0,1 - 0,12m. Chính giữa bề mặt là hình tròn (nhụy sen) đường kính 0,4 - 0,47m. Đường gờ đỡ xà Ngưỡng chia bề mặt chân tảng thành hai phần bằng nhau. Phần dưới (chìm trong nền) chỉ đẽo gọt sơ qua, dày 0,25 - 0,35m. (Ảnh 11)

Ảnh 12-13: Chân tảng không chạm hoa sen và Chỉ đẽo phẳng mặt
- Loại 2: Chân tảng không trang trí hoa sen - 09 tiêu bản tại 4 kiến trúc, được chế tác công phu, nhưng không chạm hoa văn. Bề mặt Chân tảng đẽo gọt và mài phẳng; chính giữa có đường tròn đường kính 0,45 - 0,47m. Đáng chú ý, 8/9 Chân tảng loại này nằm trong các kiến trúc quy mô nhỏ (4 gian) thuộc loại hình hành lang. (Ảnh 12)
- Loại 3: Chân tảng không được chế tác kỹ, đặt sát đáy hố móng để kê các cột Chôn nằm bên ngoài Bó nền, chỉ đẽo gọt phẳng bề mặt, không có hình dạng cơ bản xác định mà tận dụng khối đá tự nhiên. (Ảnh 13)
Theo hiện trạng các Chân tảng còn nguyên vị trí (insitu), có thể xác định kiến trúc thời Lý có hai loại cột: cột Nổi và cột Chôn. Loại cột Nổi có mặt ở 54/55 di tích, Chân tảng đặt trên bề mặt Hố móng cột (Ảnh 14). Loại cột Chôn tìm được ở 7 di tích; ở độ sâu 1,5 - 2,3m so với mặt nền kiến trúc. Xung quanh các cột gỗ được chèn chặt bằng các loại vật liệu khác. Một số cột Chôn còn giữ được phần cột gỗ đường kính 0,35 - 0,45m, cao 1,2 - 1,8m (Ảnh 15).
Trong sáu kiến trúc có sự kết hợp cả hai loại, các cột Nổi đều nằm bên trong bó nền và chịu lực chính, trong khi các cột Chôn đều nằm bên ngoài bó nền và cách các cột Nổi gần nhất 1,5 - 1,7m. Theo nhận định ban đầu, cột Chôn là kết cấu hỗ trợ cho mái hiên hoặc kết cấu phụ, không phải bộ phận chịu lực chính của bộ khung gỗ.

Ảnh 14-15: Cột Nổi và cột Chôn
* Tạm kết
Kết quả phân tích cho thấy ba đặc điểm nổi bật của di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long.
Thứ nhất, kỹ thuật xây dựng đạt chuẩn mực cao, thể hiện ở sự đồng nhất của lớp đất đắp Móng nền trên toàn bộ khu di tích, ở kỹ thuật gia cố nền đất yếu bằng các Hố móng cột đầm xen kẽ nhiều lớp vật liệu. Các Hố móng cột không chỉ đa dạng về kích thước mà còn phong phú về loại hình.
Thứ hai, sự kết hợp linh hoạt các thành phần kiến trúc trong cùng một di tích (giữa Móng bó nền bằng sành và ngói; giữa Bó nền bằng gạch và gỗ; giữa cột Nổi và cột Chôn; giữa Hố móng cột vuông và tròn…) cho thấy kiến trúc thời Lý không chỉ áp dụng một mô hình mà tùy biến theo chức năng của từng đơn nguyên.
Thứ ba, các loại Chân tảng khác nhau phản ánh công năng của cấu kiện này trong một công trình. Có thể nhận thấy mức độ trang trí Chân tảng tỷ lệ thuận với vị trí, quy mô và tầm quan trọng của kiến trúc đó.
Khi các kiến trúc chỉ còn là phế tích chìm sâu dưới đất, việc xác định các thành phần của kiến trúc từng tồn tại góp phần quan trọng vào việc nhận diện quy mô, kết cấu mặt bằng các di tích. Kết quả này không chỉ giúp nghiên cứu các di tích kiến trúc thời Lý ở Hoàng thành Thăng Long, mà còn là chỉ dấu để nhận diện, nghiên cứu các kiến trúc được xây dựng ở các thế kỷ XI-XIII ở các địa điểm khác.
TS Phạm Văn Triệu
Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

