Ngói phẳng và tiến trình tiếp biến văn hóa kiến trúc Ấn Độ - Đông Nam Á

Trong khảo cổ học kiến trúc, vật liệu lợp mái bằng đất nung là một “dấu hiệu văn hóa”, giúp tái tạo các mạng lưới giao thương và năng lực kỹ thuật của các quốc gia cổ đại. Trong khi Trung Hoa và Đông Bắc Á là địa bàn của Ngói Ống/Ngói Cong, thì Ấn Độ và Đông Nam Á lại phổ biến loại hình Ngói Phẳng/Ngói Bản. Việc theo dõi quỹ đạo của Ngói Phẳng theo trục thời gian không chỉ giải mã nguồn gốc kỹ thuật mà còn phác họa bức tranh sinh động về sự tiếp biến văn hóa (acculturation) ở những vương quốc Ấn Độ hoá.

1. Từ thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên đến thế kỷ VII: Khởi nguồn Ấn Độ

TS Uthara Suvrathan sau khi khảo cứu tại Banavasi (Karnataka), đối chiếu các di chỉ khai quật khắp Nam Ấn Độ, cho rằng: Ngói Phẳng bằng đất nung (Teracotta Flat tiles) đã xuất hiện từ thời Sơ kỳ Lịch sử, cuối thế kỷ trước Công nguyên đến thế kỷ VI. Tiêu biểu là ngói Satavahana và ngói Sannathi (theo tên địa điểm phát hiện). Loại thứ nhất có hình chữ nhật, một rãnh thoát nước dọc, khoét hai lỗ để đóng đinh hoặc chốt gỗ. Loại thứ hai cũng hình chữ nhật và 2 lỗ nhưng có bốn rãnh khắc dọc, kích thước trung bình 28,5 x 16,6 x 3cm, niên đại thế kỷ IV - V. ()

Tại Banavasi, phổ biến loại ngói có kích thước dài 25,5cm, rộng 12cm, dày 1,2cm (được xác định có niên đại thế kỷ III - VI); tại các di chỉ khác ở Karnataka ngói lớn hơn (rộng 13 - 17cm, dày 1 - 1,5cm). Từ thế kỷ VII đến XVI, Ngói Phẳng lại nhỏ dần: dài 18 - 22cm, rộng 8 - 10cm, dày 1,5 - 2cm.

Các loại hình Ngói Phẳng ở Ấn Độ

Kỹ thuật tạo lỗ đóng đinh và rãnh thoát nước của Ấn Độ trở thành nguyên mẫu công nghệ cho toàn khu vực Nam Á và Đông Nam Á.

Tại di tích gò Từ Trâm và Linh Sơn Bắc thuộc văn hóa Óc Eo, Vương quốc Phù Nam, thế kỷ I - VI, Ngói Phẳng có rãnh thoát nước và đục lỗ (thường dài 20,5cm, rộng 11,3 - 12,5cm, dày 1,3cm) được GS. Yukinori Hirano đã xác nhận có ảnh hưởng rõ rệt từ phong cách Ấn Độ cổ đại (). Sự hiện diện của Ngói Phẳng tại kinh đô Ishanapura - Sambor Prei Kuk của Vương quốc Chân Lạp, thế kỷ VI - VIII, phần nào cho thấy kỹ thuật này đã lan đến vùng hạ lưu Mê kông ngay từ giai đoạn Tiền Angkor.

Ngói Phẳng Phù Nam ở gò Từ Trâm (nguồn Bảo tàng An Giang) và Linh Sơn Bắc (nguồn tác giả)

2. Thế kỷ VIII đến X: Cải biến kỹ thuật tại bán đảo Mã Lai và Champa

Cuối thiên niên kỷ 1, Ngói Phẳng Đông Nam Á chuyển từ kỹ thuật đục lỗ đóng đinh sang tạo móc ngoàm để gác lên khung mái gỗ. Theo TS M. Nishimura, bằng chứng sớm nhất về ngói thuôn nhọn có móc uốn cong là ở Thung Tuk và Bujang (Mã Lai), có niên đại khoảng thế kỷ IX, làm từ đất sét thô pha cát mịn và trấu, mặt trong cạo phẳng, đầu trên uốn cong để gài vào dàn mái ()

Tại miền Trung Việt Nam, loại ngói này gắn với Vương quốc Champa. Cho dù từ thế kỷ I - IV, cư dân Trà Kiệu và Gò Cấm dùng Ngói Cong phong cách Hán () nhưng từ thế kỷ IX - X, Ngói Phẳng uốn móc, mũi ngói nhọn hoặc tròn đã dần thay thế. Theo nghiên cứu của Nishimura, ngói Mũi lá/leaf-shaped pointed roof tiles nguyên mẫu tồn tại ở bờ biển Tây bán đảo Mã Lai, xuất hiện ở Champa vào cuối thiên niên kỷ 1, khoảng thế kỷ IX - X () .

Ngói Phẳng Champ tại di tích Triền Tranh (TP. Đà Nẵng) (nguồn tác giả)

3. Thế kỷ X đến XIII: Bản địa hóa tại Champa và lan tỏa đến Đại Việt

Tại Champa, Ngói Phẳng thuôn dài, mũi nhọn và mũi tròn, đã được tìm thấy tại các trung tâm tôn giáo lớn. Tại An Phú, Triền Tranh, Mỹ Sơn, thế kỷ X - XII, ngói là gốm xốp pha cát, làm bằng khuôn; Dáng thuôn dài, thon nhọn, một đầu có móc gập vuông (). Tiêu bản ở Triền Tranh dài 26 - 27cm, có cả lỗ và móc vuông (). Đến giai đoạn Bánh Ít, Dương Long, An Thành (Bình Định), thế kỷ XI - XIII, Ngói Phẳng đa dạng hơn, có cả loại hẹp ngang và bản rộng (). Kỹ thuật tạo móc ngói là giải pháp bản địa hóa để thích ứng với khí hậu miền Trung nhiều mưa bão, neo giữ ngói chắc chắn hơn kỹ thuật đục lỗ Ấn Độ.

Tại Đại Việt, những viên Ngói Phẳng đầu tiên được phát hiện ở Cố đô Hoa Lư, thời Đinh - Tiền Lê (968-1009), có nhiều điểm tương đồng với ngói Champa tại An Phú và Mỹ Sơn. Ngói có thân chữ nhật thuôn dài, mũi vát nhọn, móc gập lớn. Tuy nhiên, bản ngói không hoàn toàn phẳng, mà ở mặt trên-dọc theo chiều dài thân ngói được đắp 2 thêm gờ dày để dẫn hướng nước chảy.

Ngói Phẳng Đại Việt ở Cố đô Hoa Lư (nguồn Nguyễn Văn Đoàn)

Dưới thời Lý - Trần, thế kỷ XI-XIV, Ngói Phẳng trở nên phổ biến hơn nhưng có bản rộng hơn, móc gập thành các chốt/vấu nhỏ chứ không chạy hết bề rộng ngói (). Nhiều loại ngói có cả lỗ chốt và móc vuông. Phần mũi ngói cũng có nhiều biến đổi, không chỉ vát nhọn hình tam giác hoặc vê tròn, mà được vuốt cao lên như mũi hài/mũi sen (蓮 瓦 Liên ngoã). Về kỹ thuật học, các mũi các viên ngói nhô cao giúp chia tách nước mưa tràn trên mái thành các dòng nhỏ, chống được xô tụt ngói. Đặc biệt, những viên ngói lợp ở phần chân mái (giọt gianh) được gắn thêm trang trí hình lá đề đã trở thành một đặc trưng của Ngói Phẳng Đại Việt từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX. Ngoài đặc trưng rất riêng ở phần mũi ngói vuốt cao còn có một biến đổi về kỹ thuật. Với sự xuất hiện của ngói Lót, các viên ngói không còn cả lỗ chốt lẫn móc vuông để liên kết với khung gỗ giàn mái (Rui, Mè). Cùng với độ dốc mái vừa đủ, ma sát giúp các viên ngói dày - nặng tự đè giữ nhau. 

Mô hình kiến trúc lợp ngói Mũi Sen 2 lớp và ngói Giọt gianh có gắn trang trí hình lá đề (nguồn NHK)

Ngói Phẳng không chỉ định hình tại kiến trúc cổ truyền Việt, mà tại di tích Trowulan - Cố đô thế kỷ XIII - XV của Vương quốc Majapahit (Đông Java, Indonesia) cũng đã phát hiện được nhiều tiêu bản ngói nguyên vẹn và những mô hình kiến trúc mô tả rất rõ các dạng ngói mũi vuông, chém góc và gần tròn.

Ngói Phẳng Majapahit với 3 loại mũi khác nhau (nguồn Tarikhuna-Indonesia)

Tạm kết

Từ trước Công nguyên đến thế kỷ XV, Ngói Phẳng đã trải qua một tiến trình tiếp biến văn hóa kiến trúc, chuyển từ kỹ thuật neo giữ ngói bằng kỹ thuật đục lỗ sang dùng móc ngói. 

Các quốc gia cùng chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ ở Đông Nam Á đã cải biến nguyên mẫu Ngói Phẳng Ấn Độ cho phù hợp kết cấu khung gỗ của kiến trúc và khí hậu Nhiệt đới-Gió mùa. 

Truyền thống Ngói Ống/Ngói Cong (phù hợp với vùng Hàn/Ôn đới như Trung Hoa và Đông Bắc Á) đã từng có lúc xuất hiện ở Đông Nam Á lục địa, nhưng rồi dần bị thay thế bằng Ngói Phẳng/Ngói Bản. Trong quá trình đó, Ngói Phẳng Đại Việt đã phát triển rực rỡ hơn cả, trở thành một đặc trưng của bộ mái kiến trúc cổ truyền Việt.

---------------------------------------

1. () Suvrathan, U. (2018). "The Archaeology of Roof Tiles: A Preliminary Chronology." Man and Environment, XLIII (1), tr. 79–90.

2. () Hirano, Y. (2005). Earthenware in Mekong Delta, South Vietnam. Sophia Asian Studies, (23), tr. 162–178.

3. () Nishimura, M. (2010). "The roof tiles in the later period of Champa: A consideration for its origin and diffusion." Journal of East Asian Cultural Interaction Studies, (3), tr. 76–77.

4. () Duflos, M.-C. (texte anglais revu par I. C. Glover). "Les fouilles de Tra Kieu" ["Tra Kieu Excavations"]. La Lettre de la Société des Amis du Champa Ancien (SACHA), n° 12 (2006), tr. 13–14.

5. () Nishimura, M. (2010), sđd., tr. 83.

6. ()Nguyễn Văn Mạnh (2024). "Ngói lợp mái kiến trúc và giả thiết kỹ thuật lợp mái kiến trúc Chămpa." Thông tin nghiên cứu Di sản Văn hóa Thế giới Mỹ Sơn, số 5/2024, tr. 81–83.

7. ()Nguyễn Văn Mạnh (2024), sđd., tr. 81–83.

8. () Nishimura, M.  (2010), sđd., tr. 76–83.

9. () Nishimura, M.  (2010), tr. 76–83.

 

ThS Nguyễn Văn Mạnh

Viện Khảo cổ

Top