Thế kỷ vươn mình của gốm sứ Việt

Đó là thế kỷ XV, rạng danh sử sách, với thành tựu của triều đại Lê sơ để lại, mà với tôi, gốm sứ như một bức tượng đài sừng sững trên đại lộ danh vọng của làng nghề thủ công Việt Nam trong suốt hơn hai nghìn năm có lẻ, qua hai khối hình vượt trội và ấn tượng là Chu Đậu (Hải Phòng) và Thăng Long (Hà Nội) ngày nay. Với hai biểu tượng này, người quan tâm tới gốm sứ sẽ thấy ngay những bước đột phá trên các khâu: công nghệ chế tác, kĩ thuật pha chế men, lắng xương gốm, sáng tạo mẫu mã và hoa văn, khống chế độ nung… để tạo nên một cuộc cách tân và đổi mới toàn diện ngành nghề này, để sản phẩm vươn mình ra thế giới, sánh vai với những cường quốc gốm sứ thời bấy giờ, kể cả với Trung Hoa láng giềng, luôn lấy đó là niềm tự hào, kiêu hãnh.

Đĩa gốm hoa lam thế kỷ XV

Cuộc đổi mới và cách tân nghề thủ công làm gốm Việt Nam ở thế kỷ XV, thành công trước hết, phải kể đến một truyền thống được dựng xây và đắp bồi từ nhiều thế kỷ trước đó, với sự rạng rỡ của gốm sứ Lý - Trần , được cha ông tiếp nhận, trao truyền và sáng tạo nên, với một cá tính riêng biệt, mà gốm hoa nâu như một “đặc sản” Lý - Trần, được cha ông tạo nên, với một cá tính riêng biệt, mà gốm hoa nâu như một “đặc sản” của thời đại, không một quốc gia nào có được. Đó còn là sự nắm bắt thời cơ tuyệt vời, với một tầm nhìn xa trông rộng, khi cường quốc gốm sứ Trung Hoa vào đầu thời Minh “bế quan tỏa cảng” (thôn bản bất hạ hải), với một chính sách ức thương vô cùng khắt khe, buộc nghề gốm của nước này đình đốn. Thợ thủ công Việt lợi dụng hoàn cảnh ấy, phối hợp với những lò gốm tư nhân bị phá sản ở chính quốc, tạo nên những trung tâm mới trên đất Đại Việt, sản xuất những đồ gốm, đáp ứng được thị trường khan hiếm lúc bấy giờ. Thợ giỏi, công nghệ mới, mẫu mã đẹp, thị trường rộng mở…, đã tạo nên một cú hích về công nghệ cho gốm Đại Việt vươn mình ra thế giới, đầy tự tin và đầy hiệu quả. Chính sách mở cửa, khai thông nguồn lực của vương triều Lê sơ, đầu thế kỷ XV, với nhiều cải cách về hành chính, luật pháp, xây dựng những thương cảng mới, đã tạo nên sự vươn mình của kinh tế đất nước thời kỳ này, trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, nghề sản xuất và xuất khẩu gốm sứ được ghi nhận như một bước chuyển ngoạn mục.

Để minh họa cho nhận định của mình, tôi xin đưa ra đây một vài dẫn dụ, để thấy rõ hơn nét đẹp huyền diệu của những đồ gốm Việt Nam, thế kỷ XV, được thế giới chấp nhận, không chỉ một loại hình và đề tài truyền thống, mà còn quá nhiều những sản phẩm thuộc về những “đơn đặt hàng” bên ngoài.

Chiếc đĩa gốm men trắng vẽ lam, đường kính 23,5 cm, bên ngoài trang trí hoa cúc dây truyền thống, mang sức sống và hơi thở của triều đại sản sinh ra nó, nhưng ở giữa lòng, là một đề tài chưa từng gặp trên gốm Lê sơ đã từng lưu hành ở Việt Nam. Đó là một đôi nam nữ ngồi trên thuyền, có lọng tre, đang lênh đênh trên sóng nước và trên bầu trời bao la là những áng mây bay và vầng mặt trời, qua bút pháp hoàn toàn Việt. Sự kết hợp tài tình giữa yếu tố Việt với đề tài chủ đạo không thuần Việt, đã tạo nên một sản phẩm đặc sắc, vừa đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, vừa giữ gìn được bản sắc truyền thống (Hình 1). 

Chiếc ấm hình chim phượng, vẽ hoa lam, cao 26,0 cm, đâu đó, trên những nét tỉa lông, cánh, cỏ, cây, ta có thấy đôi chút của nghệ thuật công bút Việt, nhưng về loại hình, đây cũng là những phiên bản chưa từng gặp trên phức hợp gốm Lê sơ, hiện có ở Việt Nam.

Những chiếc đĩa lớn vẽ nhiều màu, đường kính từ 35 - 38 cm, trong đó có hoa văn dát vàng 10, là một hiện tượng độc nhất trong sưu tập gốm xuất khẩu tàu cổ Hội An (Cù Lao Chàm - Quảng Nam), được nhà nghiên cứu gốm sứ nổi tiếng John Guy coi đó là một phát kiến của người Việt, trước cả Trung Hoa và Nhật Bản, hẳn là một thành tựu đáng được vinh danh của gốm sứ xuất khẩu Đại Việt thế kỷ XV. Đây là một thành tựu, trong nhiều thành tựu mà gốm sứ Đại Việt đã đạt được, với chỉ dẫn phát minh về công nghệ, bên cạnh những dòng men xuất sắc, làm nên một bức tranh đa sắc về gốm thời đại này, có mặt khắp nơi trên thị trường Á - Âu, kể cả thế giới Hồi Giáo đầy khó tính, sử dụng gốm trong kiến trúc đền/ tháp và nghi lễ tôn giáo thường nhật. 

Ấm gốm hoa lam thế kỷ XV

Ngoài Thăng Long và Chu Đậu, thế kỷ XV còn nhiều trung tâm sản xuất gốm sứ khác trên đất nước, đó là Kim Lan, Bát Tràng (Hà Nội), Bá Thuỷ (Hải Phòng),… để tạo lên một tấm bản đồ nhiệt dày đặc gốm sứ Đại Việt, in hình ấn tượng trên thương trường gốm sứ thế giới như một mảng vàng son đáng nể dưới con mắt của những thương nhân nước ngoài đầy khó tính và đầy thiên kiến với gốm sứ Trung Hoa truyền thống.

Câu chuyện về gốm sứ Việt ở thế kỷ XV, tưởng đâu như một mốc son, một tấm thông hành, để gốm sứ Việt vươn mình, sánh vai với cường quốc Trung Hoa, để làm nên một kỳ tích của nghề thủ công, vốn được coi là một truyền thống riêng biệt so với phần còn lại của thế giới đương thời.

Thế nhưng, đến cuối thế kỷ ấy, nghề thủ công gốm sứ Việt bỗng nhiên bị lu mờ, mà nhiều nhà nghiên cứu coi sự lu mờ ấy là do nguyên nhân của chiến tranh, loạn lạc. Tôi không coi đó là yếu tố quyết định, mà có lẽ, phần chủ yếu, thị trường gốm sứ xuất khẩu của Trung Hoa láng giềng quay trở lại, với sự cởi mở, thông thoáng của chính sách mở cửa vào cuối thời Minh, tạo cho hàng hoá gốm sứ của triều đại này triển nở, với giá thành có sức cạnh tranh trên thị trường, dù cho công nghệ, chất lượng sản phẩm, mẫu mã, hoa văn trang trí của gốm sứ Việt không thua kém bất cứ loại gốm sứ nào của Trung Hoa đương thời. Tôi đã có dịp chuyện trò với một chuyên gia gốm sứ nước ngoài đang công tác tại Đông Nam Á, bà đã khẳng định rằng, cùng một chiếc đĩa thời Lê sơ và thời Minh, kích thước và hoa văn tương đồng, giá chiếc đĩa hoa lam thời Lê sơ của Đại Việt đắt hơn nhiều so với đĩa thời Minh, với tư cách là cổ vật và với cả tư cách là hàng hóa cùng loại. Sự lu mờ của gốm sứ Việt thế kỷ XV còn một lý do khác, đó là thị hiếu của người tiêu dùng, trong đó có cả người Việt thời bấy giờ, kể cả tầng lớp vua, quan và vương giả giàu có, có xu hướng chuộng ngoại, đặt hàng, phục vụ cho đời sống hoàng cung và đồ gia dụng.

Đĩa gốm men nhiều màu có dát vàng thế kỷ XV

Thế nhưng, nghề thủ công gốm sứ Việt đến lúc ấy vẫn chưa chịu bó tay trước thị trường nghiệt ngã. Họ chuyển sang những đồ gốm không hoặc có men, phục vụ cho đời sống trong nước, trong đó có cả những đồ thờ tự cao cấp như lư hương, cây nến, chân đèn, thú thiêng… bằng sành hoặc bằng gốm men nội địa. Đó là thời cơ để những trung tâm Phù Lãng, Thổ Hà (Bắc Ninh), Hương Canh (Phú Thọ) ra đời, như những điểm sáng của gốm sứ Việt, sau thế kỷ XV cùng với Bát Tràng (Hà Nội), vẫn như một tượng đài của gốm lò Quan thế kỷ XVII-XVIII, phục vụ cho cung đình và cho đến nay vẫn tỏa sáng như một trung tâm của gốm sứ Việt đương thời.

Trên dặm dài của lịch sử nghề gốm Việt, dù có phải trải qua bao thăng trầm và thác ghềnh nghiệt ngã, nhưng dấu ấn để lại của ngành nghề truyền thống này là vô cùng ấn tượng, với nhiều cột mốc đáng được cắm biển ghi danh, như một niềm tự hào, như một bài học lịch sử, như một kinh nghiệm để đời, cần được ghi lại, mà thế kỷ vươn mình của gốm sứ Việt chỉ là một điểm nhấn mà tôi muốn gửi tới bạn đọc.

TS Phạm Quốc Quân

Phó Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam; nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Top