Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - biểu tượng cao đẹp của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn,
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa (1954). Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Từ cội nguồn dân tộc đến tầm vóc quốc tế
Tầm vóc Hồ Chí Minh được hình thành từ cội nguồn quê hương, gia đình và dân tộc, đồng thời được tôi luyện trong thực tiễn rộng lớn của thời đại. Sinh ra tại Nam Đàn, Nghệ An - vùng đất giàu truyền thống hiếu học và yêu nước - Nguyễn Sinh Cung lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, gắn bó với nhân dân lao động. Những năm tháng ở quê hương và kinh thành Huế đã giúp Người sớm cảm nhận nỗi đau mất nước, cuộc sống cơ cực của nhân dân và sự bế tắc của các con đường cứu nước đương thời. Chính từ thực tiễn ấy, lòng yêu nước, thương dân và ý chí tìm đường giải phóng dân tộc từng bước được hình thành, trở thành hành trang tinh thần để ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời Bến Nhà Rồng, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Trên hành trình ấy, Nguyễn Tất Thành không lặp lại những lối đi đã có, mà chủ động hướng ra thế giới để khảo nghiệm thực tiễn và tìm kiếm một con đường mới cho dân tộc.
Trưng bày chuyên đề “Người đi tìm hình của Nước” do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức năm 2021 đã khái quát chặng đường 30 năm Người đi qua ba đại dương, bốn châu lục và gần 30 quốc gia. Trong quá trình lao động, học tập và hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chứng kiến đời sống của người lao động và các dân tộc thuộc địa; nghiên cứu các cuộc cách mạng, trào lưu tư tưởng và mô hình tổ chức xã hội; đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó cơ sở lý luận cùng phương pháp khoa học để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc không tiếp nhận lý luận một cách giáo điều, mà luôn gắn lý luận với thực tiễn, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và yêu cầu cụ thể của sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
Tầm vóc quốc tế của tư tưởng và sự nghiệp Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong sự ghi nhận của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO). Tại Khóa họp lần thứ 24, diễn ra ở Paris (Pháp) từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua Nghị quyết 24 C/18.65, khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1990. Nghị quyết ghi nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, đồng thời đánh giá Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng nổi bật của sự tự khẳng định dân tộc, người đã hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam và đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nghị quyết cũng nhấn mạnh những đóng góp quan trọng, nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật; cho rằng lý tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Sự ghi nhận ấy không chỉ tôn vinh một lãnh tụ của Việt Nam, mà còn cho thấy tầm vóc quốc tế, giá trị nhân văn và sức lan tỏa liên văn hóa của di sản Hồ Chí Minh.
Tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh - Một hệ giá trị sống động
Giá trị cốt lõi, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc phải gắn với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17-10-1945, Người chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (1). Theo quan niệm ấy, độc lập dân tộc không phải là đích đến tự thân, mà phải tạo điều kiện để nhân dân được sống tự do, ấm no, có cơ hội học tập, lao động và phát triển. Giá trị hiện thời của tư tưởng đó nằm ở một thước đo căn bản đối với quản trị phát triển ngày nay: Thành tựu cuối cùng phải được phản ánh bằng sự cải thiện thực chất đời sống, quyền lợi và cơ hội phát triển của người dân.
Từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, Hồ Chí Minh xác lập chuẩn mực đạo đức trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Cũng trong bức thư ngày 17-10-1945, Người khẳng định các cơ quan chính quyền “đều là công bộc của dân” và căn dặn: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” (2). Đây không chỉ là yêu cầu về phẩm chất của cán bộ mà còn chứa đựng một nguyên tắc tổ chức nền hành chính phục vụ: Quyền lực phải được thực thi vì lợi ích của nhân dân; cán bộ phải gần dân, hiểu dân, tôn trọng dân và chịu trách nhiệm trước dân. Trong quá trình xây dựng nền quản trị hiện đại, minh bạch và dựa trên công nghệ số, nguyên tắc ấy cần được thể hiện bằng chất lượng dịch vụ công, kỷ luật thực thi, trách nhiệm giải trình và khả năng tiếp nhận, phản hồi ý kiến xã hội.
Đạo đức Hồ Chí Minh nổi bật ở sự thống nhất giữa tư tưởng, lời nói và hành động. Những phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” được Người giải thích bằng ngôn ngữ giản dị và thực hành nhất quán trong đời sống hằng ngày. Ngôi nhà sàn, đôi dép cao su, bộ quần áo ka-ki và những đồ dùng sinh hoạt được bảo tồn không quý ở giá trị vật chất, mà giá trị ở sự phản ánh một lối sống thanh bạch, tiết kiệm và gần gũi với nhân dân. Năm 2026, triển lãm “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh giới thiệu bộ đồ ăn và thực đơn hằng ngày của Người, qua đó làm rõ ý thức trân trọng thành quả lao động, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và trách nhiệm nêu gương từ những việc nhỏ nhất. Trong không gian bảo tàng, hiện vật vì thế không chỉ là dấu tích của quá khứ, mà còn là nguồn sử liệu trực quan giúp các giá trị đạo đức được nhận biết, lý giải và truyền lại cho hôm nay.
Phong cách Hồ Chí Minh đồng thời để lại một di sản có giá trị phương pháp luận: Tư duy độc lập, tự chủ nhưng không biệt lập; làm việc khoa học, cụ thể và sát thực tiễn; diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu; ứng xử khoan dung nhưng có nguyên tắc. Người có thể xây dựng những văn kiện mang tầm vóc thời đại, đồng thời sử dụng những câu chuyện và hình ảnh gần gũi để chuyển tải tư tưởng đến đông đảo nhân dân. Trong Di chúc, khi nói về trách nhiệm của một đảng cầm quyền, Người căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, đồng thời phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (3). Sự thống nhất giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách tạo nên sức sống của di sản Hồ Chí Minh: Những giá trị lớn chỉ trở nên bền vững khi được chuyển hóa thành phương pháp tư duy, cách thức hành động và hành vi cụ thể trong đời sống hằng ngày.
Di sản Hồ Chí Minh - nguồn lực nội sinh của kỷ nguyên vươn mình
Ngày 25-11-2024, đến thăm Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm nói: Trong kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam đứng trước yêu cầu tăng tốc phát triển đi đôi với bảo đảm tính bền vững; đẩy mạnh hiện đại hóa nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa; chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng trên nền tảng độc lập, tự chủ. Trong tiến trình đó, di sản Hồ Chí Minh góp phần củng cố bản lĩnh văn hóa và năng lực tự chủ của dân tộc. Tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” tiếp tục gợi mở định hướng giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển; quan điểm tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, khuyến khích đổi mới sáng tạo và chủ động hội nhập. Quan điểm “lấy nhân dân làm trung tâm” được xác định rõ trong Văn kiện Đại hội XIII và tiếp tục được Đại hội XIV kế thừa, phát triển hiện nay có thể được nhìn nhận như là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc”. Theo đó, tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời được đo bằng sự cải thiện thực chất đời sống và cơ hội phát triển của nhân dân.
Di sản Hồ Chí Minh còn cung cấp một hệ chuẩn mực đạo đức định hướng quá trình phát triển. Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và kinh tế tri thức mở ra những khả năng phát triển mới, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu về công bằng trong tiếp cận, trách nhiệm giải trình và bảo đảm công nghệ phục vụ con người. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi đổi mới sáng tạo phải mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao năng lực tham gia của các nhóm xã hội. Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, khi được vận dụng trong thời đại số, còn có nghĩa là không để người yếu thế, đồng bào vùng sâu, vùng xa và những người hạn chế về điều kiện tiếp cận công nghệ bị bỏ lại phía sau.
Trên bình diện quốc tế, hình ảnh, tư tưởng và sự nghiệp Hồ Chí Minh là một nguồn lực đặc sắc của sức mạnh mềm Việt Nam. Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh, đến tháng 11-2025 có hơn 30 địa điểm, di tích, khu lưu niệm và công trình về Người tại nhiều quốc gia, trong đó có Nga, Trung Quốc, Lào, Cuba, Mông Cổ, Anh, Pháp, Chile và Sri Lanka. Những địa chỉ ấy hợp thành một mạng lưới ký ức xuyên quốc gia, góp phần kể câu chuyện về một dân tộc kiên cường đấu tranh giành độc lập, đồng thời luôn hướng tới hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Giá trị quốc tế của di sản Hồ Chí Minh vì thế không chỉ nằm ở khả năng giới thiệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, mà còn ở sức gợi mở sự đồng cảm, vun đắp lòng tin và thúc đẩy giao lưu giữa các dân tộc.
Sức sống xã hội của di sản còn được thể hiện qua hoạt động lưu giữ, nghiên cứu và giáo dục tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Theo số liệu Bảo tàng công bố năm 2025, kho tư liệu và thư viện đang lưu giữ gần 6.000 đầu tài liệu, hơn 11.000 đầu sách và hơn 26.000 bài báo, tạp chí về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và các nhà lãnh đạo của Đảng; các tài liệu đã được phân loại và số hóa phục vụ quản lý, tra cứu và nghiên cứu. Trung bình mỗi năm, khoảng 500 đoàn với 25.000 sinh viên đến học tập, tìm hiểu tại Bảo tàng. Riêng năm 2023, Bảo tàng đón 787.750 lượt khách, trong đó có 49.273 lượt khách nước ngoài; đồng thời thuyết minh, phục vụ 2.178 đoàn khách trong nước và quốc tế. Những số liệu trên cho thấy Bảo tàng Hồ Chí Minh không chỉ là nơi lưu giữ và tưởng niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn là trung tâm nghiên cứu, khai thác nguồn sử liệu, không gian giáo dục mở và là điểm đến giao lưu văn hóa, thu hút đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
Một số ấn phẩm của các tác giả nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Từ trái sang): Ho Chi Minh - A Journey (Hồ Chí Minh- Một hành trình). Tác giả Lady Borton, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2007; Ho Chi Minh - Eine Chronik (Hồ Chí Minh - Một biên niên sử). Tác giả Henmút Kápphenbécgơ, Nxb. Neues Leben, Đức, 2009; Ho Chi Minh - Écrits et Combats (Hồ Chí Minh - Những bài viết và những cuộc tranh đấu). Tác giả Alanh Rútxiô, Nxb. Le Temps des Cerises, Montreuil, 2019. Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Để di sản Hồ Chí Minh sống mãi trong đời sống đương đại
Di sản chỉ trường tồn khi được gìn giữ bằng tri thức, lan tỏa bằng sáng tạo và tiếp nối bằng hành động của cộng đồng. Đối với di sản Hồ Chí Minh, bảo tồn không thể chỉ dừng ở việc lưu giữ hiện vật, tu bổ di tích hay nhắc lại những giá trị đã được khẳng định; quan trọng hơn là làm cho tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người thấm sâu vào nhận thức, trở thành động lực học tập, lao động và phụng sự xã hội. Muốn vậy, cần đổi mới đồng bộ giáo dục di sản, bảo vệ tính xác thực của không gian ký ức, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển đổi số và hợp tác quốc tế, qua đó đưa di sản từ quá khứ đồng hành cùng hiện tại và soi sáng tương lai.
Thứ nhất, cần chuyển mạnh từ truyền đạt một chiều sang giáo dục di sản dựa trên trải nghiệm. Một bức thư, bản thảo, chiếc máy chữ hay căn phòng làm việc phải được đặt trong câu chuyện lịch sử có bối cảnh, nhân vật và vấn đề để công chúng tự khám phá. Bảo tàng số, tham quan 3D, bản đồ tương tác, thuyết minh đa ngữ và học liệu mở cần được xây dựng trên cơ sở dữ liệu chuẩn hóa, bản quyền rõ ràng và thông tin đã kiểm chứng. Công nghệ không thể thay thế được hiện vật gốc, nhưng nó mở rộng khả năng tiếp cận, nhất là với người trẻ và công chúng quốc tế.
Thứ hai, phải gắn bảo tồn vật thể với gìn giữ “tinh thần của nơi chốn”. Khu di tích Kim Liên gồm các cụm Hoàng Trù, Làng Sen, khu mộ bà Hoàng Thị Loan và các di tích phụ cận; cùng với Pác Bó, Tân Trào, Phủ Chủ tịch và hệ thống bảo tàng, di tích lưu niệm trên cả nước, đó là những không gian ký ức đặc biệt. Việc tu bổ cần tôn trọng yếu tố gốc, cảnh quan, ký ức cộng đồng và sức chứa của điểm đến; tránh thương mại hóa thô ráp hoặc sân khấu hóa làm nhạt tính xác thực. Du lịch di sản chỉ bền vững khi một phần nguồn thu trở lại cho bảo tồn, cộng đồng địa phương được tham gia và du khách nhận được tri thức chứ không chỉ là một địa điểm chụp ảnh.
Thứ ba, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải được đo bằng kết quả công việc. Trong cơ quan công quyền, đó là thời gian giải quyết thủ tục, mức độ hài lòng của người dân, tinh thần tiết kiệm và trách nhiệm của người đứng đầu. Trong doanh nghiệp, đó là kinh doanh liêm chính, tôn trọng người lao động và trách nhiệm với xã hội. Trong trường học, đó là năng lực tự học, lòng nhân ái, ý thức cộng đồng và khả năng đối thoại với khác biệt. Chỉ thị 05-CT/TW năm 2016 và Kết luận 01-KL/TW năm 2021 đã tạo khuôn khổ chính trị cho việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là làm cho các chuẩn mực ấy trở thành hành vi có thể nhận biết, đánh giá và nhân rộng.
Thứ tư, cần tăng cường nghiên cứu liên ngành và hợp tác quốc tế; công bố tư liệu có chú giải, xây dựng bộ từ khóa đa ngữ, kết nối cơ sở dữ liệu giữa bảo tàng - lưu trữ - thư viện và các địa chỉ Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Đây cũng là cách thức khá hiệu quả để phản bác lại các thông tin sai lệch bằng chứng cứ, lập luận khoa học và cách truyền đạt thuyết phục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng di sản tư tưởng và văn hóa của Người vẫn soi đường cho dân tộc Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình, cách tôn vinh Người thiết thực nhất là biến khát vọng thành hành động, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; lấy nhân dân làm trung tâm, chủ thể và người thụ hưởng thành quả phát triển. Đó là cách để văn hóa Hồ Chí Minh tiếp tục hun đúc bản lĩnh, khơi dậy khát vọng và tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc vững bước tới tương lai./.
Tài liệu tham khảo:
(1). Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.64-65.
(2). Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.64-65.
(3). Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
(4). Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.
Trung tướng, PGS. TS Lê Kim Cương
Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng (Bộ Quốc phòng)

