"Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!"

Từ mùa xuân năm 1940 sau khi bắt liên lạc được với Ban Lãnh đạo hải ngoại của Đảng ta ở Côn Minh (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị về nước. Để thực hiện kế hoạch, Người phân công một số đồng chí về trước và căn dặn việc tìm địa điểm làm căn cứ địa phải đảm bảo hai điều kiện: Có hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui. Ngày 28-1-1941, Pác Bó, Trường Hà, Cao Bằng đã đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam là nơi đón Bác trở về sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trở thành nơi đầu nguồn và căn cứ địa đầu tiên của cách mạng nước ta.

Bữa cơm đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại nhà ông Lý Quốc Súng sau ngày về nước. 

(Tranh trưng bày tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó).

Chọn đường trở về hướng Côn Minh - Lào Cai

Côn Minh là thủ phủ của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, nơi có biên giới với tỉnh Lào Cai của nước ta. Từ Côn Minh đến Lào Cai có đường xe lửa và đường bộ dài khoảng 500 km. Tuyến đường sắt Hải Phòng - Lào Cai - Côn Minh (còn gọi là tuyến đường sắt Điền-Việt) do  người Pháp xây dựng nhằm khai thác tài nguyên của vùng núi phía Bắc Việt Nam và các tỉnh miền Nam Trung Quốc, khánh thành năm 1910. Người Pháp đã đưa nhiều công nhân Việt Nam sang và sau khi hoàn thành, nhiều người ở lại sinh sống tại các địa phương dọc theo tuyến đường và trở thành những cơ sở rất đáng tin cậy của Đảng.

Để xúc tiến việc về nước theo đường Côn Minh - Lào Cai, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp đi nghiên cứu, khảo sát thực tế con đường này. Lúc bấy giờ ở Côn Minh có tổ chức Việt kiều là Hội Những người Việt Nam ủng hộ nhân dân Trung Quốc chống phát xít Nhật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và được hoạt động công khai ở Côn Minh. Nguyễn Ái Quốc đã làm giấy tờ dưới danh nghĩa của Hội này và cùng với Phùng Chí Kiên, người phụ trách Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài lúc đó dành một tháng đi thăm các cơ sở dọc tuyến đường xe lửa Vân Nam - Hà Khẩu, nơi giáp với Lào Cai. Sau một tháng đi các cơ sở, Nguyễn Ái Quốc trở về Côn Minh, giao nhiệm vụ cho những người ở lại tiếp tục gây dựng cơ sở, giữ bí mật, đồng thời ra sức ủng hộ nhân dân Trung Quốc  kháng chiến chống Nhật.

Tại Côn Minh Nguyễn Ái Quốc gặp lại hai người cùng hoạt động ở Xiêm hơn 10 năm trước, đó là Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc. Người trao đổi với họ ý định về nước theo đường Côn Minh - Lào Cai và giao cho Hoàng Văn Lộc đi Hà Khẩu để thăm dò đường. Tại đây Nguyễn Ái Quốc cũng gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, những người được đồng chí Hoàng Văn Thụ bố trí vượt biên sang Trung Quốc liên lạc với cơ sở Đảng ở nước ngoài. Sau cuộc gặp, lấy bí danh Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đã viết giấy giới thiệu Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh Dương Hoài Nam) đi học trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Diên An.

Để nắm bắt tình hình quốc tế và chuẩn bị về nước, Nguyễn Ái Quốc rời Côn Minh đi Trùng Khánh vào tháng 6-1940 để liên lạc với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Người dặn đi dặn lại các đồng chí ở lại chuẩn bị mọi mặt để khi Người trở lại có thể lên đường về nước ngay.

Tháng 6-1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, Paris thất thủ, Nhật vào Đông Dương. Được tin đó Nguyễn Ái Quốc tổ chức cuộc họp tại Côn Minh, Người nhận định: Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ, chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng. Người cũng điện cho các đồng chí Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp không đi Diên An nữa mà trở lại Quế Lâm để tìm cách về nước.

Tuy nhiên, con đường trở về theo hướng Côn Minh- Lào Cai  không thể thực hiện được bởi cây cầu trên sông Nậm Thi nối Hà Khẩu với Lào Cai bị quân đội Trung Hoa phá để ngăn quân Nhật vào Trung Quốc, biên giới của phía Trung Quốc ở vùng này với Đông Dương bị đóng.

Chuyển kế hoạch về nước hướng mới:Quảng Tây - Cao Bằng

Mặc dù ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước. Trong hồi ký Những chặng đường lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: Tháng 10-1940 khi chọn hướng về Cao Bằng, Bác nhận định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ.

Nói đến phong trào cách mạng ở Cao Bằng trước hết phải nói đến những hạt giống đỏ và chi bộ Đảng đầu tiên ở Cao Bằng. Đó là Hoàng Đình Dong, người con dân tộc Tày được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928 tại cơ sở của Hội ở Long Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; đó là Hoàng Văn Nọn, người được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng cùng với Hoàng Đình Dong và Hoàng Văn Thụ, và họ đã thành lập chi bộ đầu tiên ở Long Châu. Với sự ra đời của chi bộ Đảng đầu tiên, phong trào cách mạng ở vùng biên giới Cao Bằng và Lạng Sơn được gây dựng và phát triển. Nhiều thanh niên yêu nước của Cao Bằng được đi dự các lớp huấn luyện ở nước ngoài và chính họ thực hiện nhiệm vụ đưa đón cán bộ đi hoạt động ở giữa hai vùng biên giới. Tháng 4-1930 chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của Cao Bằng được thành lập, do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm Bí thư, chi bộ vừa làm nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng ở Cao Bằng, đồng thời bám sát với hoạt động của chi bộ Đảng ở Long Châu.

Trong thời gian từ năm 1930 đến năm 1935, Cao Bằng đã có trên 70 đảng viên với nhiều chi bộ cơ sở Đảng ở khắp trong tỉnh. Tháng 3-1935, tại Đại hội I của Đảng họp ở Ma Cao, Trung Quốc, đồng chí Hoàng Đình Dong được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong những năm Đảng thực hiện “Chương trình hành động 1932-1935”, tổ chức Đảng ở Cao Bằng đã trở thành cầu nối giữa Ban Lãnh đạo Trung ương Đảng với phong trào cách mạng trong nước. Nhiều thanh niên Cao Bằng sau khi tham dự các lớp huấn luyện ở Long Châu, về nước họ trở thành những người lãnh đạo cách mạng ở địa phương, một số đi Xiêm (Thái Lan) liên lạc với các cơ sở ở trong nước. Với những kết quả hoạt động của mình, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương công nhận vào tháng 7-1933. 

Cuối năm 1934, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Cao Bằng Hoàng Văn Nọn đã được Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương cử làm đại biểu chính thức của Đảng cùng với các đồng chí Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva. Tại Đại hội này đồng chí Hoàng Văn Nọn đã đọc tham luận về vận động các dân tộc ít người ở Đông Dương tham gia cách mạng. Sau Đại hội Hoàng Văn Nọn được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu vào học lý luận Mác-Lênin tại Trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, của Đại hội lần thứ I của Đảng ở Ma Cao năm 1935, Tỉnh uỷ Cao Bằng đã lãnh đạo Đảng bộ tập hợp quần chúng nhân dân các dân tộc trong Mặt trận Dân chủ Đông Dương đấu tranh đòi quyền lợi tự do, dân chủ, cải thiện đời sống dưới nhiều hình thức công khai hợp pháp và nửa hợp pháp; Vận động nhân dân hưởng ứng phong trào “Đông Dương đại hội” đòi thực hiện cải cách dân chủ, cải thiện đời sống… thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao… từ vùng cao đến vùng thấp tham gia.

Người Cao Bằng vốn chất phác, giản dị, chân thành, lại được Đảng soi đường, họ có niềm tin và đó là niềm tin tuyệt đối. Đây chính là cơ sở vững chắc để Bác và Đảng ta quyết định chọn Cao Bằng xây dựng căn cứ địa.

Bên cạnh yếu tố con người là quyết định nhất, Cao Bằng còn có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để kết nối với bên ngoài cũng như trong nước. Trước hết Cao Bằng là tỉnh giáp với biên giới Trung Quốc, gần thành phố Long Châu, một trong những trung tâm cách mạng của người Việt Nam ở Trung Quốc lúc đó. Với đường biên giới dài hơn 300 km với Trung Quốc, rất tiện lợi cho việc liên lạc quốc tế, trong đó có đường đến Thuỷ Khẩu và Long Châu của Trung Quốc là những con đường trọng yếu của nhân dân hai nước vùng biên và của các chiến sĩ cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc từ những năm đầu thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đối với liên lạc trong nước, Cao Bằng có thể “Nam tiến” về Lạng Sơn và Bắc Cạn (cũ); có thể “Tây tiến” sang Hà Giang và Tuyên Quang (cũ); Cao Bằng có quốc lộ nối với Lạng Sơn, Thái Nguyên rồi toả xuống đồng bằng Bắc Bộ, tiện lợi cho việc kết nối với các phong trào cách mạng của cả nước.

   Cao Bằng còn có địa hình hiểm trở, nhiều núi cao, hang động, nhiều sông, suối, lại có cả đồng bằng rất thuận lợi cho các hoạt động du kích. Với khoảng 10% diện tích đất bằng với những cánh đồng vừa và nhỏ, có khả năng tự cung tự cấp những nhu cầu thiết yếu. Do vậy đây là điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng là căn cứ địa cách mạng, đảm bảo các yếu tố địa lợi, nhân hoà, “tiến khả dĩ công”, “thoái khả dĩ thủ”, có cơ sở vững chắc về chính trị và quân sự…

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại lớp Huấn luyện chính trị cho cán bộ Cao Bằng trước khi về nước. (Tranh trưng bày tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó).

Chặng cuối hành trình trở về: Quế Lâm, Tĩnh Tây, Pác Bó

Tin tức về các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ được đăng tải trên báo chí Quế Lâm càng làm cho Nguyễn Ái Quốc thấy cần thiết phải rời nơi đây về gần biên giới Việt Nam hơn. Tháng 12-1940 Người cùng một số cán bộ rời Quế Lâm đi xuống Tĩnh Tây, địa phương có huyện lỵ cách Cao Bằng chỉ gần 40 km. 

Hai địa danh trên đất Trung Quốc trong chặng cuối của hành trình trở về của Nguyễn Ái Quốc ở huyện Tĩnh Tây, đó là hai làng Tân Khư và Nậm Quang.Tại làng Tân Khư , Nguyễn Ái Quốc gặp và nghe Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng báo cáo với Người tình hình trong nước và việc chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ tám. Đồng chí Hoàng Văn Thụ đề nghị với Người nên chọn hướng Cao Bằng để về nước. Người đồng ý với đề nghị đó và rời làng Tân Khư về làng Nậm Quang sát biên giới Việt-Trung.

Tại Tĩnh Tây lúc đó, để chuẩn bị cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”, Tưởng Giới Thạch đã lệnh cho một viên tướng người Việt hoạt động quân sự đã lâu là Trương Bội Công từ Liễu Châu về Tĩnh Tây mở lớp huấn luyện quân sự cho những người Việt Nam có tư tưởng chống Pháp để cùng hành động. Trong số học viên đó có 40 thanh niên từ Cao Bằng sang. Biết có lớp huấn luyện này, Nguyễn Ái Quốc quyết định để 40 học viên người Cao Bằng bỏ lớp huấn luyện của Trương Bội Công về làng Nậm Quang dự lớp huấn luyện do Người mở. Chương trình huấn luyện gồm hai nội dung: Một là học về tình hình thế giới và trong nước; hai là học về cách tổ chức và tuyên truyền, huấn luyện đấu tranh cách mạng, cách tổ chức đoàn thể quần chúng. Tham gia giảng bài cùng với Người có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Các tài liệu biên soạn cho lớp huấn luyện được Người chỉ đạo in thành sách Con đường giải phóng.

Lớp học kết thúc vào những ngày giáp Tết Tân Tỵ (1941). Sáng mồng Một Tết Nguyễn Ái Quốc còn đi chúc Tết bà con Nậm Quang, Người mặc bộ quần áo màu chàm dân tộc Nùng, đầu vấn khăn, tay chống gậy. Đêm hôm đó có tin báo ngày mai sẽ có lính Tưởng tới tìm, nên sáng sớm mồng 2 Tết, Người cùng các đồng chí lên đường vượt biên giới, đó là vào ngày 28-1-1941. 

Sau này, nhớ lại giây phút đầu tiên đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc, Người kể với các chiến sĩ của mình: Xa rời Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã mất bao nhiêu thời giờ và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới đặt chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng xúc động.

Nhà thơ Tố Hữu đã truyền cảm xúc thiêng liêng của Bác bằng những vần thơ chạm tới trái tim của mỗi người Việt Nam: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/ Nhớ thương, hòn đất ấm hơi Người/ Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/ Mà đến bây giờ mới tới nơi!.

TS Nguyễn Thị Tình

Ủy viên Thường vụ Hội Di sản Văn hóa Việt Nam; nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Top