Những kiệt tác ở đình Hạ Hiệp

Tôi đã nghe và đọc hồ sơ đình Hạ Hiệp kể từ khi ngôi đình này được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1991 và được nhiều nhà nghiên cứu ngợi ca như một bảo tàng mỹ thuật trên gỗ thế kỷ XVIII. Tao bon be cong wite, Khien chưa một lần về thăm, cho dù, khi ở Hà Tây hay Hà Nội, Hạ Hiệp chí cách trung tâm Thú đô hơn một giờ đi đường, theo Đại lộ Thăng Long hay Quốc lộ 32, cũng vài chục cây số, rất thuạn tiện cho mọi phương tiên đường bộ. May man thay trung tuần tháng hai năm Kỷ Hợi, Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội mời một số nhà nghiên cứu, trong đó có tôi, về dự buổi tọa đàm khoa học về ngôi đình này để chuẩn bị làm hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận Di tích quốc gia đặc biệt năm 2019, tôi mới có dịp về Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, Hà Nội - quê hương của ngồi đình Hạ Hiệp, chứa đựng những kiệt tác mà bài viết này muốn giới thiệu, như một kho báu của nghệ thuật trên gỗ thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVIII.

Đình Hạ Hiệp thờ Thành hoàng làng, một danh tướng của quân khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống
quân xâm lược Đông Hán, có tên là Hoàng Đạo. Phối thờ với vị tướng quân ấy là một người thợ cả trong hiệp thợ xây dựng ngôi đình này. Đó là một nét thể hiện sự độc đáo của đình Hạ Hiệp trong phức hợp đình làng Việt, dẫu rằng, đâu đó, trong truyền thuyết dân gian, nhân vật phối thờ lại là một vị Tuần phủ hưng công xây dựng đình.
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, đình Hạ Hiệp đã có nhiều đợt trùng tu, tôn tạo, từ thế kỷ XVII cho đến những năm gần đây. Tuy nhiên, trong số 25 đạo sắc đang được lưu giữ trong đình, có một Đạo duy nhất, niên đại Dương Hòa tam niên (1637), đã cho biết, ngôi đình được khởi dựng từ thế kỷ XVII. Mặc dù vậy, dấu tích ấn tượng, thể hiện kiệt tác mỹ thuật trên gỗ, chủ yếu tại tòa Đại đinh, lại cho hay, niên đại đinh Hạ Hiệp thuộc cuối thể kỷ XVIII. Niến đại này dường như trùng khớp với ghi chép về việc trùng tu đình vào những năm Cảnh Hưng 12 (1751), Cảnh Hưng 20 (1759), Cảnh Hưng 32 (1771), được thể hiện trên tấm bia: "Tại Đình bi", hiện đang dựng bên trái tòa Đại đình có niên hiệu Cảnh Hưng 32 (1771). Như vậy, bài viết ngắn này sẽ chỉ tập trung giới thiệu những giá trị nổi trội nhất qua những tác phẩm mỹ thuật trên gỗ ở tòa Đại đình, còn những nghi môn, tiền tế và cảnh quan xung quanh, thiết nghĩ sẽ được trình bày trong một dịp khác, do dung lượng bài viết có hạn và do những thành tố ấy được tu bổ, tôn tạo vào những giai đoạn sau, ít có giá trị như một kiệt tác nghệ thuật.

Có thể nói, kiệt tác mỹ thuật ở đình Hạ Hiệp mật tập ở tòa Đại đình, được thể hiện trên chất liệu gỗ, thông qua các bức cốn vì nách hai gian giữa và hai gian hồi, tại các ván nong trên cột ké và dày đặc trên các van gió xà thượng bao quanh nội thất. Các đề tài trang trí ở đây được thể thiện bằng nhiều kỹ thuật đục, chạm: chạm nồi, chạm lộng, chạm bong kênh. Đề tài thể hiện cực kỳ phong phú, đa dạng với hình tượng con người, chim thú, linh vật.. hòa quyện, đan cài, thể hiện đời sống vật chất và tinh thần của con người - những chủ nhân sản sinh ra những kiệt tác ấy, đậm đặc hơi thở của thời đại, của nghệ thuật đình làng Việt thế kỷ XVIII.
Vũ nữ là một đề tài khá ấn tượng và phổ biến được thể hiện chủ yêu trên các ván gió diệp thượng. Các vũ nữ có khuôn mặt bầu binh, đầu đội mũ bình phương, thân hình thon thả, uyển chuyển khoác trên mình những bộ xiêm y truyền thống lộng lẩy, múa những điệu múa dân gian mà người chiêm ngắm tưởng như là những thôn nữ trong những lễ hội đình làng. Ngoài vũ nữ, trên các các ván gió ở tòa Đại đình là một đề tài người cưỡi rồng, dường như bị cấm kỵ trên nghệ thuật cung đình, khi hình ảnh rồng là biếu tượng cho vương quyền và thần quyền, thì người thường dân đâu có quyền xâm phạm vào những điều cấm kỵ ấy. Nghệ thuật đình làng, nghệ thuật dân gian gạt bỏ mọi thế lực quyền uy để diễn tả những điều người nông dân muốn, đó là tinh thần tự do, phóng khoáng của đời sống cộng đồng, ước vọng của người dân, với hình ảnh người nông dân mình trần, đang vành miệng con rồng mở rộng ra, đế tay phải đấy một cổ quan tài vào sâu trong miệng linh thú, như mong muốn cho đời sau, con cháu họ được hưởng sự vinh hiển, giàu sang mà ngạn ngữ dân gian vẫn thường ước nguyện
"mả táng hàm rồng". Ước nguyện và mong muốn của người nông dân mình trần, chân đất, quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" muốn có một sức mạnh phi thường, có thể khuất phục được chúa sơn lâm, qua hình ảnh người đàn ông cưỡi hổ với tư thế phi nước đại.
Tư thế ấy, sức mạnh ấy, không một thế lực nào có thể áp chế được, như một thông điệp gửi tới các thế lực cường quyền đương thời.

Các bức chạm Tiên cưỡi rồng, đình Hạ Hiệp ( Theo Sở Văn Hóa và Thể Thao Thành phố Hà Nội )


Yếu tố phi chính thống của nghệ thuật đình làng Hạ Hiệp còn được thấy nhan nhản trên các mảng chạm khắc, đó là cảnh đấu vật sinh động qua các đô vật làng, mình trần, đóng khố, mặt mày tươi tỉnh đang trong xới vật. Rồi cảnh uống rượu, với nghi thức đối ẩm của hai vị, chắc là trưởng lão của làng, say mềm trong ngạo nghễ, trên một ván dong, trước gian giữa của tòa Đại đình. Sinh hoạt dân gian còn thể hiện ở cảnh đánh cờ, qua sự diễn xuất bằng bút pháp tả thực sinh động của nghệ nhân với hai kỳ thủ đều vận áo dài, tay áo rộng, đội mũ che kín tay và gáy, khiến liên tưởng tới câu thành ngữ dân gian
"mũ ni che tai". Gạt bỏ mọi vướng bận với sự đời, cảnh đánh cờ, qua hai kỳ thủ ung dung thưởng rượu/ uống trà, dường như là tâm sự của những trí sĩ đương thời, từ bỏ quyền cao, chức trọng chốn quan trường về với làng quê yên ả. Có lẽ, chính họ là tác giả của những kiệt tác nghệ thuật này, khi một phần đời đã tiêu phí cho sự bon chen, phân còn lại, về với làng, với nước, thấy thích thú và ý nghĩa hơn nhiều.
Đình Hạ Hiệp là một kho tàng về nghệ thuật tạo hình dân gian, với những mảng chạm khắc cảnh ôm gà đi chọi, cảnh vinh quy bái tổ... dường như ta đã thấy đầu đó trên tranh Đông Hồ, Hàng Trống, mà người viết bài này chưa hiểu, đình với tranh quan hệ ra sao, để có những tác phẩm nói được những ý nguyện của người dân sâu sắc và giống nhau đến vậy?
Yếu tố dân gian, tính phóng khoáng tự do của người nông dân làng quê Việt còn được thể hiện qua "bức tranh" thiếu nữ tắm trong hồ sen. Những cô thôn nữ ở trần, tóc buông dài, đang tắm trong hồ nước thả sen. Thế nhưng, ý nhị và kín đáo, một thôn nữ ngắt lá sen lớn, che trước ngực và cả đề tài được khuất lấp, che phủ bằng những đạo lửa, như chỉ mách niên đại nguyên ủy của bức chạm trên, thuộc thế kỷ XVIII.

Bức chạm Ổ rồng và kỳ đà, đình Hạ Hiệp ( Theo Sở Văn Hóa và Thể Thao Thành phố Hà Nội )


Còn rất nhiều, rất nhiều kiệt tác mỹ thuật ở điêu khắc đình làng Hạ Hiệp, mang những đề tài sinh hoạt, đề tài động vật... mà bài viết ngăn này không sao miêu thuật hết và nếu có miêu thuật cũng không sao lột tả được thần thái, kỹ thuật của điêu khắc gỗ của ngôi đình này. Tuy nhiên, qua chiêm ngắm và nghĩ suy, tôi nhận ra một điều rằng, những tác phẩm ấy phản án đúng sinh hoạt làng xã và chúng được sản sinh ra từ những bàn tay tài hoa của người thợ thủ công Việt bình dị. Tuy nhiên, để có được những đề tài táo bạo, phóng khoáng và tự do như thế, phải là của các trí sĩ hồi hưu hoặc thất thế về làng, muốn tháo bỏ mọi ức chế của chốn quan trường đã từng phải trải nghiệm, gửi gắm những suy tư, phiền muộn của mình qua nhưng tác phẩm, nhưng vẫn giữ được nguyên bản sinh hoạt làng quê, vì họ thấy, chính ở đó đã đem lại sự bình yên, thanh thản nhất. Rất có thể, những tác phẩm dân gian trên phạm tới định chế của chính quyền phong kiến đương thời, nhưng nó đã phản ánh đời sống thực, nó đã chạm tới ý nguyện của người dân và đi vào lòng dân ngay từ lúc sinh ra, để muôn đời sau, vẫn tôn thờ và chấp nhận như một di sản của cha ông để lại.
Với thiển nghĩ ấy, tôi cho rằng, đình Hạ Hiệp, chỉ với những kiệt tác trên gỗ như đã nêu, cũng đủ xứng đáng là Di tích quốc gia đặc biệt.*

TS Phạm Quốc Quân

 

Top