Trống đồng loại II Hegen với người Mường
Trống đồng loại II Heger được Bảo tàng tỉnh Hòa Bình. ( Theo Tạp chí điện tử Văn hóa và phát triển )
Bài viết này không có ý định và cũng không có đủ điều kiện bàn đến hết thảy những điều liên quan tới bốn loại trống, mà chỉ tập trung đề cập tới nguồn gốc và chủ nhân trống đồng loại II Hegen - vốn được coi là một hiện tượng của khảo cổ học Việt Nam, chỉ sau trống đồng heger 1
Có thể khẳng định được rằng, dường như giới nghiên cứu trống đồng trong nước, cho đến nay đều thừa nhận rằng, trống Heger II ra đời sau trống Heger I. Thế nhưng, khung niên đại tồn tại của trống loại này còn là vấn đề, chưa nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu trống đồng trong nước và nước ngoài.
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, nhà nghiên cứu khảo cổ học quá cố Nguyễn Thành Trai cho rằng, trống đồng loại lI Heger có hai giai đoạn hình thành và phát triển: Giai đoạn tiền phật giáo và phật giáo.
Ông cũng là một trong số ít những nhà nghiên cứu gọi trống loại II Heger là trống Mường. Cùng với ông, Giáo sư, Viện trưởng Viện Khảo cổ học Phạm Huy Thông, trong một bài tham luận của mình, cũng coi chủ nhân trống loại II Heger là người Mường - một dân tộc thiểu số đông dân cư nhất nước ta cho tới nay và là một dân tộc có quan hệ khăng khít gốc nguồn với người Việt cổ.
Quả thật, tiền phật giáo hay phật giáo, dựa vào hoa văn trang trí trên trống, theo tôi hiểu, qua những luận văn của Nguyễn Thành Trai, đó là mốc thời Lý - Trần, khi phật giáo Việt Nam trở thành quốc giáo. Trước hai triều đại này, hoa văn mang yếu tố phật giáo dường như không thấy.
Bắt đầu từ Lý - Trần trở về sau, hoa cúc, hoa sen, lá đề ... thấy nhan nhản trên trống loại II Heger. Như vậy, về cơ bản, khung niên đại y của trống loại II Heger có cả trước và cả sau thời Lý - Trần, nhưng không rõ kéo dài bao nhiêu thế kỷ? còn lý do mà Nguyễn Thành Trai gọi đây là trống Mường, bởi những trống ấy chủ yếu tìm thấy ở địa bàn cư trú của dân tộc Mường, đó là vùng núi Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An. Giáo sư Viện trưởng Phạm Huy Thông tuy không hoàn toàn tán thành về cách phân kỳ nêu trên của học trò mình, nhưng dường như ông ủng hộ tên gọi Mường cho loại trống này.
Nói cho thật công bằng, những ý kiến của hai vị tiền bối nêu trên, gọi trống loại |I Heger là trống Mường, ngoài địa bàn phân bố của chúng, như đã nêu trên, còn là những truyền thuyết lịch sử nói về trống đồng có liên quan tới dân tộc này, còn là những buổi hành lễ liên quan tới tang ma của họ với trống đồng và đặc biệt, những trống đồng loại II Heger thường được chôn cất theo các Lang Cun, Lang Đạo - lớp quý tộc cao cấp nhất của cộng đồng Mường qua các thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ của Việt Nam, phần nào phản ánh đời sống văn hóa tâm linh của người Mường có quan hệ chặt chẽ với trống đồng.
Người Mường hay người Việt có liên quan tới trống đồng được coi là hằng số. Hằng số ấy trải dài trong diễn trình lịch sử, văn hóa Việt Nam nói chung và của hai cộng đồng dân tộc này nói riêng. Tuy nhiên, nói đến chủ nhân và đặc biệt gán đặt tên gọi của một loại trống cho một cộng đồng dân tộc, phải căn cứ trên tiêu chí chủ yếu, đó là, cộng đồng ấy phải là những người sản xuất, chế tạo ra những chiếc trống đồng.
Nhiều năm trước, khi nghiên cứu về người Mường và trống đồng loại II Hegen, tôi đã từng phân kỳ trống loại II Heger thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu vào thiên niên kỷ I sau công nguyên, tương đương thời kỳ người Việt thực hiện cuộc kháng chiến nghìn năm chống Bắc thuộc. Giai đoạn thứ hai, lấy mốc từ thế kỷ X, tính từ khi Vua Đinh Tiên Hoàng cho đúc trống phân phát cho các tù trưởng địa phương, qua thời Lý - Trần đến Lê sơ, Mạc, Tây Sơn và kết thúc vào thời Nguyễn, với niên đại trống Lai Đồng, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Đền Hùng là tiêu biểu, đại diện. Với hai khung niên đại nêu trên, đã cho chúng ta nhận ra rằng, trống loại II Heger có quá trình hình thành và phát triển gần 20 thể kỷ. Chúng không chỉ có giai đoạn phật giáo và tiền phật giáo như Nguyễn Thành Trai đã phân kỳ, theo đó, chúng cũng không hoàn toàn ứng với lịch sử hình thành và xuất hiện dân tộc Mường với tư cách là một dân tộc độc lập. Tôi đã từng viết rằng, dân tộc Mường tách ra khỏi khối Viết - Mường chung sớm nhất cũng chỉ thời Lý Những nhà nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, vẫn hóa, tiến hối như Giáo cư Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Pham Đr Dương... cho niên điểm tách ra của người Mường khải khối Việt Mường chung, đâu đó vào cuối thế kỳ X. Như thể lịch cử xuất hiên của trống loại II Heger so với lich sử xuất hiện của dân tộc Mường, chênh nhau tới 7, 8 thể kỳ: Vậy là, kể từ khi người Mường, tên gọi Mường chưa xuất hiện, trống loại II Heger đã ra đời và tôn tại. Hơn thế theo cố Giáo sư Trần Từ - môt nhà dân tộc học danh tiếng trên thế giới nghiên cứu về người Mường đã từng khẳng định rằng, người Mường không có nghề luyện kim và đúc đồng, không có nghể làm gốm. Họ chỉ có nghề nông trồng lúa nước trên những thung lũng hẹp với sự trợ giúp của lương thực nương rẫy và mùa nông nhàn là nghề dệt thổ cẩm.
Mặt trống đồng loại II Heger, có bề mặt lớn và có bốn khối tượng cóc. ( Theo Tạp chí điện tử Văn hóa và phát triển )
Tuy không đúc trống, nhưng người Mường, kể từ sau thế kỷ X đã sử dụng trống loại II Heger như là một thực thể trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng. Họ mua trống đồng của những con buôn người Việt và người Chăm, mà bài Mo Klong - đông (Mo trống đồng) đã miêu tả cuộc hành trình của chú Khóa (con buôn người Việt), thẳng Lồi (con buôn người Chăm) mang trống đồng từ dưới xuôi lên vùng Mường bán cho tầng lớp quý tộc, đặc biệt là Lang Cun, Lang Đạo sử dụng. Nhìn những hoa văn trên trống loại II Heger, kể từ thời Lý - Trần trở về sau, yếu tố Việt (Kinh) thể hiện dày đặc và chính họ là người tiếp thu nghệ thuật đúc trống của người Vệt cổ thời Đông Sơn - tổ tiên của họ, để sản xuất ra những chiếc trống đồng loại II Heger thời 1000 năm chống Bắc thuộc và sáng tạo nên những chiếc trống đồng loại lI Heger của người Việt (Kinh) thời Lý - Trần, Lê, bán cho người anh em Mường của họ. Y kiến trên đây, tôi đã từng viết ra hơn một lần, trong đó có một bài tham luận trong hội thảo quốc tế về trống đồng tổ chức tại Nam Ninh (Trung Quốc) cách đây hơn hai thập niên. Và dường như, cho đến nay, chưa một ai phủ nhận.
Như vậy, trống đồng loại II Heger, với tư cách là chủ nhân sáng tạo - người Mường, hẳn không phải. Song, với tư cách là chủ nhân sử dụng, thì họ và người anh em trực hệ của họ là người kinh, đồng thời là chủ nhân đúc trống, hẳn là hoàn toàn có lý, qua những phân tích hết sức cô đọng và ngắn gọn trên đây. **
TS Phạm Quốc Quân

