Đôi điều về nghệ thuật Tuồng truyền thống Việt Nam

Sân khấu Việt Nam với các báu vật có tuổi đời nghìn năm hoặc vài trăm năm như Chèo, Tuồng, Múa rối nước, được coi là một nền sân khấu lớn trên thế giới. Tuy vậy, việc tận dụng các di sản sân khấu này như một tài sản để phát triển công nghiệp văn hóa thì mới chỉ có Múa rối nước hiện đã có những bước đi rất tốt, riêng Chèo và Tuồng thì vẫn đang tìm đường cho riêng mình.

Cần phải khẳng định rằng Chèo và Tuồng là hai báu vật của văn hóa dân tộc. Với nghệ thuật Chèo, chỉ với 7 vở diễn được coi như “kinh điển”: Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình - Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên, Chu Mãi Thần, Từ Thức, Trinh Nguyên và gần 300 làn điệu tuyệt vời, Chèo cổ với hơn 1000 năm hình thành và phát triển, là bộ môn sân khấu dân gian thuần Việt đặc biệt hấp dẫn và luôn mới mẻ. Sinh sau Chèo khoảng 600 năm, nghệ thuật Tuồng là bộ môn sân khấu hàn lâm truyền thống Việt Nam đã đạt tới nhiều đỉnh cao và có thể so sánh với nhiều đỉnh cao của sân khấu hàn lâm thế giới.

Nhân vật Tạ Ôn Đình trong tuồng Sơn hậu. Ảnh: ST

Tuy vậy, cho tới nay, có một định kiến dù đã bị các nhà nghiên cứu tuồng uy tín bác bỏ từ lâu, vẫn đang tồn tại là Tuồng được sinh ra từ hí khúc Trung Quốc. Câu chuyện không có cơ sở về một kép hát người Hoa tên là Liễu Thủ Tâm thời Tiền Lê đến Hoa Lư và trình bày lối hát xướng nhà Tống cũng như chuyện thời nhà Trần, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bắt được một tên quân Nguyên tên là Lý Nguyên Cát vốn là kép hát, tha tội chết và sai dạy lối hát Trung Quốc cho binh sĩ Việt… để thành nghệ thuật Tuồng và cả Chèo Việt Nam vẫn được ghi chép trong một số tài liệu cần phải được loại bỏ để tránh những hiểu lầm đáng tiếc.

Nữ tướng Đào Tam Xuân trong vở tuồng "Đào Tam Xuân loạn trào". Ảnh: ST

Về nội dung, nếu như Chèo dựa vào các truyện Nôm khuyết danh có tích Trung Hoa, Tuồng phần lớn dựa theo tiểu thuyết chương hồi Hán văn Trung Hoa và một ít từ đời sống xã hội hiện thời. Nhưng, cũng như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Hoa nhưng các nhân vật trong “Truyện Kiều” Việt Nam đến mức không thể Việt Nam hơn. Hàng chục vở tuồng cổ vẫn đang được biểu diễn hiện nay cũng như kho tàng hàng trăm kịch bản tuồng đang lưu tại các thư viện Pháp, châu Âu và Thư viện Quốc gia Việt Nam, nội dung Trung Hoa đều đã được Việt hóa hoàn toàn từ chủ đề tư tưởng, tính cách nhân vật, tình tiết kịch… Ví dụ nhân vật Trại Ba, Công chúa nước Liêu trong vở tuồng “Ngũ hổ bình Liêu” của Nguyễn Diêu đã trở thành một nữ tướng không những rất Việt Nam mà còn đậm chất con gái “ đất võ trời văn” Bình Định, quê hương của tác giả. Hay nhân vật Trương Phi trong vở tuồng “Cổ thành” của Đào Tấn không còn là một nhân vật hữu dũng vô mưu như trong “Tam quốc diễn nghĩa” mà đã thành một Trương Phi dù nóng nảy, hay mượn rượu giải phiền nhưng rất biết cân nhắc đúng sai để sống thật trọn tình trọn nghĩa, có “cái tỉnh trong say” rất kỳ diệu mà Trương Phi của Trung Quốc không có...

Lão tướng Tạ Ngọc Lân và con gái Phương Cơ trong vở tuồng "Tam nữ đồ vương". Ảnh: ST

Cũng như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, trong sân khấu Tuồng, nhiều nguyên tác Trung Hoa rất trung bình, được rất ít người biết nhưng tác phẩm sân khấu Việt Nam dựa vào nó thì rất nổi tiếng như Đào Phi Phụng, Ngũ hổ bình Liêu, Trầm Hương các, Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan, Đào Tam Xuân loạn trào, Triệu Đình Long cứu chúa, Võ Hùng vương… Và một số trường hợp đã trở thành kiệt tác không những của sân khấu Việt Nam mà của cả sân khấu thế giới như “Sơn hậu”, "Tam nữ đồ vương", "Hồ Nguyệt Cô hóa cáo"… Không thể không coi vở tuồng “Sơn hậu” là kiệt tác với những nhân vật chính tà rất lớn, với các trường đoạn tuyệt vời như đoạn Khương Kinh Tá vì cản giặc cho Đổng Kim Lân đưa ấu chúa trốn thoát sự truy đuổi của kẻ thù, đã bị Tạ Ôn Đình chém đứt đầu vẫn cầm đầu chạy theo bạn rồi hóa thành ngọn đuốc sáng đưa Đổng Kim Lân cùng ấu chúa vượt đèo cao trong đêm tối để đến miền đất hứa. Cũng phải nói như vậy về vở tuồng “Tam nữ đồ vương” với hình tượng hai cha con Phương Cơ, Tạ Ngọc Lân bất hủ và trường đoạn bi hùng “Tạ Ngọc Lân lăn lửa”: lão tướng Tạ Ngọc Lân, vì nghĩa lớn đã dìm đứa con trai Tạ Kim Hùng, đại tướng vô địch của tà phái, cùng chết chung trong ngọn lửa đỏ. “Hồ Nguyệt Cô hóa cáo” với tấn bi kịch một con cáo tu luyện ngàn năm để được làm người rồi chỉ vì quá si mê đã bị lừa tình phải đau đớn trở lại kiếp cáo, đã thành vở tuồng giàu ý nghĩa hiện đại và có sức sống, sức phổ biến kỳ diệu hiếm thấy. Rồi các kiệt tác của thiên tài Đào Tấn như “Hộ sanh đàn”, “Diễn Võ đình” hay vở tuồng hài kỳ thú “Nghêu Sò Ốc Hến”…

Hình tượng Khương Linh Tá hóa ngọn đuốc đưa đường cho Đổng Kim Lân qua đèo trong tuồng "Sơn hậu". Ảnh: ST

Đấy là về nội dung, còn về hình thức, nghệ thuật Tuồng đã tạo nên một hệ thống âm nhạc, mỹ thuật, nghệ thuật biểu diễn sân khấu cũng đậm màu sắc Việt và hấp dẫn, tổng hòa trong một “sân khấu tổng thể” rất hiện đại. Theo nhà nghiên cứu nghệ thuật tuồng Mịch Quang (giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật), trong lần sang thăm và biểu diễn tại nước ta những năm 1960, anh em nghệ sĩ kịch câm  số 1 thế giới Mác xen - Mác xô khi được xem tuồng đã phát biểu: “Thật là cừ khôi, ở đây người ta tiến hành liên kết tất cả các nghệ thuật. Bên chúng tôi người diễn viên kịch không biết hát, không biết múa, người ca sĩ Opera không biết nói, không biết múa, người nghệ sĩ balê không biết hát, không biết nói. Ở đây người diễn viên biết hát, biết nói, biết làm kịch câm, biết múa. Đây là nghệ thuật diễn viên tổng thể”. 

Về mặt Âm nhạc, tuy hệ thống làn điệu và bài bản tuồng không nhiều, tất cả chỉ vài chục, nhưng do tính chất “mở” và “động” của nó và nghệ thuật sử dụng ngữ điệu ngữ khí tuyệt vời của diễn viên mà nó trở nên vô cùng sống động. 

Về mặt Mỹ thuật, hệ thống mặt nạ tuồng rất đa dạng và có sức hấp dẫn vô cùng. Nếu hệ thống làn điệu tuồng là phương tiện giúp diễn viên làm cho tình cảm của nhân vật, của tác giả và của bản thân diễn viên trở thành “cái có thể nghe được”, thì hệ thống múa tuồng lại làm cho tình cảm ấy trở thành “cái có thể thấy được”. 

Trong nhiều sự độc đáo của nghệ thuật biểu diễn Tuồng, người ta thường nói đến sự độc đáo “có một không hai” của đôi hia đế cong của các nhân vật tướng, kép chỉ có ở nghệ thuật Tuồng Việt Nam. Nhờ đôi hia đế cong mà vũ đạo tuồng mới sinh ra các kỹ thuật bê, siếng, lỉa… có khả năng “vật chất hóa” các trạng thái tình cảm khó thể hiện nhất của nhân vật. Với đôi hia đế cong, người diễn viên có thể như bay lên mà đôi chân vẫn dính trên sàn diễn…

Trong một bài báo ngắn, khó có thể nói hết cái hay cái đẹp của nội dung và nghệ thuật tuồng, nhưng chúng ta có thể tự hào rằng đây thực sự là một di sản hết sức phong phú, độc đáo, có nhiều giá trị hiện đại của văn hóa dân tộc. Tuồng cần được coi là một nguồn tài sản quý giá mà công nghiệp văn hóa của đất nước cần chú trọng khai thác để góp phần tạo nên sự giàu có, độc đáo và sức chinh phục to lớn của Công nghiệp Văn hóa Việt Nam.

Nguyễn Thế Khoa

Nhà nghiên cứu Tuổng, Tổng Biên tập Tạp chí Văn hiến Việt Nam

 

Top