Nghi thức cúng truyền thống tại lễ hội Múa Cheo do các già làng, đội nghi lễ thực hiện.
Cúng kêu mưa rất cầu kì, trải qua ba phân khúc cúng.
Đầu tiên là cúng lễ vật sống. Con heo, con gà được buộc chân thật chặt trên đòn khiêng. Đoàn múa Cheo cử hai nam mạnh khỏe khiêng heo gà. Già làng bày biện bàn cúng, không có hương, chỉ đốt nến được làm từ sáp ong. Những người lớn tuổi trong nóc đứng thành hàng ngang phía sau già làng. Lời khấn vái lầm rầm, đó là lời báo cáo, lời kể với Trời, với thần về nỗi vất vả gian truân từ khi tra hạt lúa trên rẫy, khi làm cỏ, khi giữ con thú rừng… Là lời khấn kể những ngày khô hạn, dân làng cần nước, cây cỏ cần nước, và hơn hết là các rẫy lúa cần có nước để nuôi dưỡng những đòng lúa mập mạp. Lời báo cáo những lễ vật sẽ dâng lên Trời, dâng lên thần, là heo, là gà, là cá của dân nóc tự làm.
Sau tiếng hú dài là tiếng chiêng, trống đánh lên. Đi đầu là đội khiêng heo, khiêng gà. Sau đó là đoàn chiêng trống, và sau cùng là đội nữ múa. Họ xoay chín vòng quanh bàn lễ. Sau đó là tiếng hú dài đồng loạt vang lên. Nghi lễ đầu kết thúc.
Những lễ vật sống đã được trình thần bắt đầu được đem xuống chế biến. Dân nóc mỗi người một tay, đàn ông làm heo, làm gà; đàn bà nhóm lửa, gói bánh, nấu bánh. Những hạt nếp trắng ngần được gói trong từng lá đót xanh mượt. Từng chiếc bánh nhọn, bánh cặp xinh xắn được đôi tay các chị, các mẹ dún lạt, buộc thành từng chùm ngay ngắn. Họ luộc bánh ngay sau khi gói. Than ở các bếp lửa được cời ra, họ nướng cá, nướng thịt…
Dâng cúng lễ vật cho trời đất, sông núi, tổ tiên.
Không khí lễ hội diễn ra tấp nập. Đội cồng chiêng bắt đầu tấu chiêng trong thời gian chờ đợi. Tiếng chiêng rộn rã, tiếng trống hào hùng, dội vào vách núi, vang tận trời xanh.
Sau khi đã hoàn thành việc chế biến, bàn cúng tiếp tục được bày ra. Hai bên bàn cúng bây giờ được bố trí thành ba tầng ngay ngắn. Mỗi tầng để một ít thịt tươi, có lòng heo, lòng gà. Bàn dưới chính giữa bày gà đã luộc, để ngửa trên các rá tre được đan tỉ mẩn, có đế cao. Thịt heo nướng, thịt luộc, cá suối nướng để trong những mảnh lá chuối xanh; canh măng rau rừng để trong ống tre, ống nứa…
Phía dưới bàn cúng còn bày biện một tầng nhỏ, chỗ đó cũng có gà luộc với đầy đủ các món như bàn trên. Người Cor quan niệm thế giới người chết cũng như thế giới người sống, có tôn ti trật tự. Bàn trên cao là cúng Trời, thấp hơn là cúng thần, rồi thấp nữa là cúng các già làng đã khuất. Phần tầng thấp nhất dưới cùng là cúng thần đất, và những người mất không tên tuổi.
Già làng lại bắt đầu lời cầu khấn. Lời khấn cầu xin trời, xin thần cho mưa xuống, để dân làng có nước dùng; để con thú, cỏ cây có nước mà sống; và đặc biệt nhất để cho những rẫy lúa trên kia được trổ bông to hơn, trúng mùa hơn. Cuối lời khấn cũng lại là tiếng hú dài. Chiêng trống lại bắt đầu tấu lên. Điệu múa Cheo lại nhịp nhàng. Họ lại di chuyển vòng tròn quanh bàn cúng đúng chín vòng.
Con số chín được xem là con số quan trọng của người Cor. Họ quan niệm tất cả vạn vật trên đời cần phải “chín”. Chín không là số đếm, mà là tính từ biểu thị sự toàn vẹn, đủ đầy. Thức ăn phải chín mới đảm bảo; rẫy lúa rẫy bắp phải chín mới bẻ, mới lẩy mang về; Trái cây trong vườn cũng phải để chín mới hái; và việc làm cũng phải làm cho… chín, nghĩa là làm cho xong, làm cho hoàn thiện, nhuần nhuyễn… Họ xoay chín vòng Cheo và kết thúc nghi lễ.
Lần lễ thứ ba là lần cúng tạ ơn. Già làng rót rượu, thắp nến và khấn vái lần cuối cùng cho nghi lễ. Đó là lời tạ ơn Trời, tạ ơn thần đã cho nửa năm qua thuận mưa hòa gió, cho dân làng khỏe mạnh không ốm đau, tạ ơn thần đã phù hộ dân nóc bình yên. Cuối cùng là tiếng hú dài đồng loạt kết thúc phần nghi lễ trong Lễ hội múa Cheo của đồng bào Cor.
Đội chiêng trống trong nghi lễ - Ảnh: Thanh Tuân
Sau lễ cúng kêu mưa, cả nóc bắt đầu ngồi lại cùng nhau uống rượu, ăn bánh, vui chơi cả ngày. Tối đến, sân nhà Rông nổi lửa. Đó chính là lửa của đêm hội làng Cor, lửa của tuổi trẻ, lửa của tình yêu đôi lứa. Khác với một số đồng bào thiểu số khác, người Cor dành riêng một đêm lửa không còn cho nghi lễ cúng thần mà cho niềm vui, cho sự giao lưu gắn kết, cho tình yêu đôi lứa sau lễ múa Cheo ban ngày.
Dưới trăng huyền linh, ngọn lửa bập bùng linh thiêng, những đôi chân trần nhún nhảy nhịp nhàng. Đó là vũ điệu trỉa lúa, gieo hạt hớn hở. Đó là vũ điệu vui tươi khi được mùa, vũ điệu thu hoạch, tuốt lúa, lẩy lúa bằng đôi tay khéo léo, uốn dẻo, xoay vòng, bỏ vào gùi. Đó là vũ điệu sau mùa gặt, là giã gạo, là sàng sảy, thổi cơm… Tiếng trống, tiếng chiêng quyện nhau dập dồn, rạo rực. Từng bước dìu dặt, từng bước uyển chuyển…
Đêm về khuya, đống lửa mấy lần tàn rồi lại cháy, đêm hội làng Cor đến hồi vãn. Sau nhiều vòng Cheo, các chàng trai cô gái đã biết ai là người tấu chiêng hay nhất, ai là người múa điệu múa Cheo đẹp nhất, và con tim cũng biết rạo rực vì ai trong đêm hội. Họ giã từ ra về khi sương khuya bắt đầu lạnh xuống, trong niềm luyến tiếc và sẽ hẹn mùa sau.
Thanh Tuân