Tiếng mõ gõ nhịp thời gian giữa lòng Sư phạm

Dạo bước rề rà qua mảng sân ngập nắng của Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi bỏ lại sau lưng tiếng còi xe cuộn lên từng đợt inh om ngoài ngã tư Xuân Thủy. Vừa rẽ qua tán cây xà cừ cổ thụ, một vạt không gian khác ùa tới - thăm thẳm, rợp bóng, phủ mờ sương khói của hàng trăm năm dồn nén: Chùa Thánh Chúa ngưng đọng ở đó.

Một cánh cổng Tam quan bằng gỗ lim xỉn màu sừng sững hiện ra. Những thớ gỗ nứt nẻ chân chim hằn lên từng rãnh sâu, gom trọn nắng mưa của bao mùa sương giáng. Mùi nhang trầm thoang thoảng lẫn trong mùi ngai ngái của bùn đất ải vươn lên từ kẽ gạch, luồn sâu vào cuống phổi. Nhịp thở tự nhiên chùng xuống, giãn ra, rũ bỏ sạch sẽ lớp vỏ bọc xù xì bám đầy bụi bặm mưu sinh, để đón lấy một cõi thiền đang tĩnh tọa chờ đợi.

Huyền tích nương nhờ bóng áo nâu sồng

Lịch sử ở chốn này chưa bao giờ là những dòng chữ ngay ngắn nằm ngủ vùi vô tri trên các trang giáo trình khô khốc. Lịch sử cựa mình trong từng tiếng mõ lốc cốc gõ nhịp đều đặn vào cõi không, rỉ máu trong những cuộc chuyển giao quyền lực khốc liệt, và tỏa hương qua những lời nguyện cầu thấu tận cửu trùng.

Chính cái thinh lặng đặc quánh ấy, thêm cùng vài mảnh ký ức vụn vặt từ người bạn khoa Sử đi cùng, đã ném tôi ngược về với bóng mây của hơn mười thế kỷ trước. Trong bóng râm của mái ngói âm dương sứt mẻ, dường như vẫn còn vương vất tiếng thở dài trĩu nặng của bậc đế vương triều Lý. Một vị Vua mỏi mắt trông ngóng mầm sống nối dõi cơ đồ khi mái đầu đã điểm hoa râm. Làn khói nhang mỏng tang uốn lượn dâng lên từ bệ thờ ngày ấy mang theo sức nặng của cả một vương triều, thấu tận cõi Phật bao dung, để rồi Ỷ Lan phu nhân thai nghén. Tiếng khóc chào đời của Thái tử Càn Đức vang lên, xé đi bức màn u ám chốn thâm cung, biến nếp chùa tĩnh mịch này thành cội nguồn của niềm hy vọng, thành ngọn hải đăng tâm linh neo đậu những lời thỉnh cầu thuần khiết nhất.

Nhìn từ bên ngoài vào trong, chùa Thánh Chúa nổi bật với cổng Tam quan và hai cây Muỗm trên 500 tuổi chụm đầu vào nhau, tạo thành thế cân đối, độc đáo.

Ba thế kỷ rụng lả tả như lá khô sân chùa, thềm gạch mòn vẹt lại phải gồng mình đón nhận một cơn địa chấn khác - kịch tính, đẫm máu. Tiếng gươm đao chát chúa. Binh lửa loạn lạc từ cuộc soán ngôi của Lê Nghi Dân hắt bóng tử thần xuống ngai vàng, nhuộm đỏ những thảm lụa hoàng cung, đẩy một đứa trẻ mang dòng máu rồng - Thái tử Lê Tư Thành - vào cửa tử. Và cửa Phật từ bi, một lần nữa, dang rộng vòng tay áo nâu sồng ủ ấm một mầm sống đang run rẩy. Đứa bé từng ngồi chốn lầu son gác tía phải khoác lên mình manh áo vá, ăn hạt cơm chay tịnh nhạt nhẽo xót lòng, giấu đi ánh mắt sắc lẹm dưới lớp vỏ bọc của một chú tiểu quét lá đa. Những đêm dài thao thức nghe tiếng côn trùng nỉ non ngoài sương lạnh, nén cái sợ hãi tận cùng vào từng nhịp kinh kệ, có lẽ đã âm thầm phôi thai nên khí chất của một Lê Thánh Tông - bậc minh quân lỗi lạc, quyết đoán, mang tầm nhìn vượt thời đại sau này. Sự tĩnh lặng của thiền môn đã mài giũa nên một thanh gươm báu.

Vị Vua tài trí ấy ngày trở lại ngự trên đỉnh cao quyền lực đã không quên lối mòn năm xưa giấu mình. Ông tạ ơn ngôi chùa cưu mang bằng hai mầm muỗm vùi vội xuống khoảng sân đất nện. 500 năm chớp mắt bay qua - một cái thở dài của vũ trụ, nhưng là vạn vòng luân hồi của kiếp nhân sinh. Hai mầm non ngày ấy giờ đã vươn vai hóa thành hai thân đại thụ gân guốc, khổng lồ. Vỏ cây xám xịt, bong tróc thành từng mảng lớn, hằn gồ những u cục sần sùi như vảy rồng chìm nổi. Rễ cây trồi lên mặt đất, cuồn cuộn vặn xoắn vào nhau, cắm phập vào tầng đất sâu, tấu lên khúc ca sinh tồn kiêu hãnh. Cành lá đan bện trên không trung, xòe ra một chiếc lọng xanh ngắt, khổng lồ, che rợp cả một khoảng trời, gom hết nắng gắt mưa sa vào vòm ngực rộng lớn.

Hồn cốt tứa ra từ lớp sơn son

Kiến trúc quần thể Thánh Chúa không vươn cao ngạo nghễ. Chùa uốn mình nương theo hình chữ Đinh khiêm nhường, lẩn khuất. Mái ngói vảy cá xô lệch xếp chồng lên nhau, rêu phong phủ xanh rì, viền những đường gợn sóng nhấp nhô in bóng lên nền trời chiều. Nhìn từ xa, cấu trúc “chuôi vồ” đặc trưng khiến ngôi chùa trông như một vị thiền sư đang tĩnh tọa, vững chãi, buông bỏ mọi phàm trần. Tòa Tiền đường năm gian thênh thang mở ra khoảng không gian đón sáng, nơi những bước chân ngập ngừng của khách thập phương chạm vào ranh giới giữa đời và đạo. 

Chính điện gồm 7 gian nhìn về hướng Tây Nam, kết cấu theo hình chuôi vồ, gợi khung cảnh mộc mạc, yên bình chốn thiền môn.

Càng bước sâu vào Thượng điện, ánh sáng càng lùi dần. Bóng tối linh thiêng, thẳm sâu nuốt trọn lấy tầm mắt. Hơi lạnh từ nền đất thấm qua đế giày. 77 pho tượng gỗ và đất nung hiện diện giữa không gian tranh tối tranh sáng, trầm mặc uy nghi. Khói nhang lượn lờ vấn vít quanh những gương mặt tạc từ thế kỷ XVII. Thời gian dường như bất lực trước những nếp nhăn đuôi mắt, trước nụ cười mỉm bao dung, trước những ngón tay búp sen mềm mại đang bắt quyết ấn. Từng lớp sơn son thếp vàng xỉn màu, có chỗ bong tróc lộ ra cốt gỗ thô ráp, tứa ra cái hồn cốt của những người thợ tài hoa đã gửi gắm sinh mệnh mình vào từng nhát đục.

Một con ngách nhỏ lát gạch rêu trơn trượt dẫn lối sang thế giới bên sườn Tam bảo. Vườn cây xanh mát xào xạc lá rụng. Không gian vỡ ra thành nhiều mảnh ghép sinh động. Nhà Tổ ngập chìm trong hương trầm thoang thoảng, nơi đặt bài vị của những bậc chân tu đã trút bỏ nhục thân, hóa vào tro bụi. Điện thờ Đức Địa Tạng u tịch, nhà Mẫu rực rỡ sắc màu hầu đồng, rồi vòng qua khu tháp mộ yên ả phơi mình dưới nắng. Mỗi góc sân, mỗi bậc thềm là một khoảng dừng, một dấu lặng để người ta nhặt nhạnh lại chính mình sau những chao đảo mệt nhoài.

Các hoành phi, cửa võng, câu đối được sơn son thếp vàng, chạm trổ công phu trong không gian chính điện.

Rồi, một tiếng “boong” rền vang, cứa vào thinh không. Quả chuông đồng đúc năm 1828 dưới triều Minh Mạng vừa được thỉnh lên. Thanh âm ấy cuộn sóng, lan tỏa, va đập vào chiếc khánh đồng nhuốm màu xanh gỉ sét nặng hơn cả tạ của thời Thiệu Trị, tạo nên một bản hòa âm vang dội, nhức nhối mà thanh tẩy. Tiếng chuông dội vào lồng ngực, rung lên từng tế bào, luồn qua những hàng cột gỗ trơn bóng mồ hôi tay người, xuyên qua vòm lá muỗm già, gột rửa đi mọi lấm lem phiền muộn, kéo con người trở về với bản ngã nguyên sơ, trong trẻo.

Chùa có một hệ thống tượng phong phú, với 77 pho tượng Phật, Bồ tát, A la hán, Hộ pháp, Bát bộ Kim Cương, Thập điện Diêm Vương... bằng gỗ và đất nung; một số tượng mang phong cách thế kỷ XVII.

Vị ngọt hậu ủ ấm một vạt tình người

Giữa vòng xoáy đô thị hóa đang nuốt chửng từng tấc đất làng Dịch Vọng cổ kính, chùa Thánh Chúa vẫn âm thầm giữ lại một nhịp thở thong dong của nông thôn Bắc Bộ. Những ngày hội làng cuối tháng Giêng, sân chùa bừng lên sức sống mãnh liệt. Màu cờ ngũ sắc bay phần phật trong gió bấc non. Nhịp trống chèo đò thình thịch thúc giục, tà áo lụa múa hoa sen, múa chim phượng uốn lượn nhịp nhàng. Tiếng hò reo cổ vũ trò đập niêu đất vỡ vụn vang rộn cả một góc sân, đánh thức miền ký ức vùi sâu trong tiềm thức những người con xa xứ.

Đọng lại sâu thẳm nhất trong tâm trí tôi, không phải là những huyền tích quân vương lẫy lừng, mà là những đêm mùa thi rả rích tĩnh mịch. Dưới bóng chiều chạng vạng xô dần về tối, nhà chùa thắp lên ngọn đèn cao áp sáng rực một khoảng sân, dang tay đón bao lớp sinh viên mang giáo trình ra học bài. Ánh đèn vàng vọt hắt bóng những mái đầu cúi gập xuống những trang giấy chi chít chữ. Từ trong ngõ sâu, vài cụ già móm mém khệ nệ bưng ra chiếc tích sành ủ nước vối cắm thêm vài nhánh lá tươi, đặt nhẹ nhàng lên bậc thềm đá mát lạnh. Nhấp một ngụm. Thứ nước dân dã xộc vào khoang miệng, chát xít lúc đầu, rồi từ từ dội lên cuống họng một luồng ngọt hậu thanh tao, tịnh tâm đến lạ. Hương vị êm đềm ấy, tình người dung dị ấy, giống hệt cái cách những người nghệ nhân làm trà tôi đã gặp, tỉ mẩn tước từng cánh sen Tây Hồ ủ vào mẻ trà Shan tuyết mạn ngược - gom góp trọn vẹn chút tinh hoa hương đất khí trời gửi vào một vòng tay ôm ấp ân cần.

Gió từ phía hồ thủy đình lùa tới. Mấy chiếc lá muỗm khô nương theo đà, cuộn lạo xạo trên mặt sân gạch, rồi lẫn khuất hẳn vào bóng tối dưới chân tháp mộ. Tiếng chuông chiều đã dứt tự bao giờ, vệt nắng cuối ngày cũng rỉn bớt sắc đỏ, loãng ra, nhạt nhòa trên nếp ngói âm dương. Ngoài kia, còi xe ngã tư Xuân Thủy lại rít lên lanh lảnh. Nhưng sâu trong lồng ngực, dưới vòm lá thẫm sương này, dường như vừa có một chồi non tĩnh tại lặng lẽ cựa mình.

Bài và ảnh: Lương Đình Khoa