Thầy cúng thực hành nghi lễ Tạ ơn Pó Then trong không gian lễ hội truyền thống
Giữa những nếp nhà sàn trầm mặc của bản Ngàm Pốc, khi sương sớm còn vương trên ruộng bậc thang, câu chuyện về Chá Mùn vẫn được kể như một phần hơi thở đời sống. Với người Thái đen ở Yên Thắng, đó không chỉ là một lễ hội, mà là ký ức tập thể về hành trình con người tìm cách vượt qua bệnh tật, thiên tai và nỗi bất an của kiếp sống trần gian.
Theo lời các bậc cao niên và các mo Mùn, thuở xa xưa Mường Lúm, thế giới loài người chìm trong dịch bệnh, ốm đau, không thuốc men. Trước tai ương ấy, tổ tông người Thái đã cử người lên Mường Trời cầu cứu Pó Then, đấng tối linh tạo ra đất, nước, ruộng nương và muôn loài. Người Thái truyền nhau câu nói: “Thén lò nặm pín pá, thén lò na pín khấu”. Pó Then sinh ra nước để có cá, sinh ra ruộng để trồng lúa, như một lời khẳng định về cội nguồn sinh tồn.
Cảm động trước lời khẩn cầu của Mường Lúm, Pó Then mở cổng trời, sai quân lính và thần y xuống trần gian trừ tà, chữa bệnh. Khi dân gian được cứu sống, các mo Mùn, những người có căn duyên hành nghề chữa bệnh – lần theo sợi lụa linh thiêng lên Mường Trời tạ ơn và xin học phép. Từ đó, ba dòng thực hành tín ngưỡng hình thành: mo Dượng (soi ma tà), mo Một (dùng quạt xua tà) và mo Mùn (dùng gươm, lời chú và thuốc rừng để trừ bệnh). Trước khi trở về trần gian, Pó Then căn dặn: Sau khi chữa khỏi cho đủ số người, các mo phải làm lễ tạ ơn trời.
Chá Mùn ra đời từ lời hứa thiêng liêng ấy.
Nghi lễ nối hai cõi
Hằng năm, vào tháng 9, tháng 10 âm lịch, khi lúa trên nương đã vào thì con gái, mo chủ lại chọn ngày đẹp nhất để mở hội. Từ sớm, những “Lúc May”, người từng được mo Mùn cứu khỏi bệnh trong trang phục rực rỡ, đội lễ vật về nhà mo chủ. Mỗi gia đình góp một con gà, chai rượu, trầu cau, ô vải thổ cẩm, đệm ngồi nhồi bông lau… như cách dâng lên lòng biết ơn. Không gian lễ hội được thiết lập bằng 31 mâm cỗ: một mâm chính đặt gần cửa sổ gian giữa, nơi Pó Then ngự và 30 mâm phụ bày đủ chuối, mía, khoai lang, khoai sọ, cá nướng, xôi, thịt gà, thịt lợn, rượu cần. Mỗi mâm không chỉ là lễ vật mà còn là biểu trưng cho sự đủ đầy, cho mong ước mùa màng bội thu, người người khỏe mạnh. Khi mọi người đã tề tựu, mo chủ cùng 4-6 mo Mùn phụ lễ bắt đầu nghi thức mời Pó Then và linh hồn các thầy mo đã khuất. Những lời khấn ngân lên, hòa cùng tiếng chiêng, tiếng trống và điệu xướng cổ, tạo nên nhịp cầu nối giữa Mường Lúm và Mường Trời. Người bệnh được gọi vía về dự lễ, như một cách hoàn tất hành trình chữa lành.
Kết thúc phần lễ là phần hội: những trò diễn dân gian, thi đấu thể thao truyền thống, hát múa cộng đồng rộn ràng cả bản. Chá Mùn vì thế không chỉ là nghi lễ tín ngưỡng, mà là ngày hội của đoàn kết, của niềm vui sống sau những tháng ngày lam lũ.
Từ quên lãng đến di sản quốc gia
Như nhiều lễ hội tín ngưỡng ở vùng cao, Lễ hội Chá Mùn đã từng có quãng thời gian dài lùi sâu vào ký ức cộng đồng. Sau năm 1945, khi chiến tranh lan rộng, đời sống nhân dân Yên Thắng chìm trong đói nghèo, bệnh tật, những nghi lễ truyền thống dần thưa vắng. Nhiều mo Mùn cao tuổi qua đời mà chưa kịp truyền dạy trọn vẹn những bài khấn, nghi thức và tri thức y học dân gian. Chá Mùn, sợi dây tâm linh nối con người với Pó Then và Mường Trời có lúc tưởng như chỉ còn tồn tại trong lời kể của các bậc cao niên.
Thế nhưng, lễ hội chưa bao giờ mất hẳn. Trong tiềm thức cộng đồng người Thái đen ở Yên Thắng, Chá Mùn vẫn được coi là nghi lễ lớn nhất, là lời hứa thiêng liêng với trời đất về việc gìn giữ sự sống, sức khỏe và sự hài hòa của con người với tự nhiên. Những “mảnh ký ức thiêng” ấy từ cách bày mâm cúng, lời khấn, đến các điệu múa nghi lễ vẫn âm thầm được gìn giữ trong các gia đình mo, già làng, tạo nên mạch ngầm văn hóa chờ ngày hồi sinh. Bước ngoặt đến vào năm 2017, khi Sở VHTTDL Thanh Hóa phối hợp với huyện Lang Chánh (cũ) triển khai công tác phục dựng Lễ hội Chá Mùn. Các nhà nghiên cứu, cán bộ văn hóa đã về tận bản Ngàm Pốc, bản Peo, gặp gỡ từng mo Mùn, từng nghệ nhân để ghi chép, sưu tầm lời khấn, nghi thức, cách thức tổ chức lễ. Từ những tư liệu rời rạc, một chỉnh thể tương đối đầy đủ của Lễ hội Chá Mùn được khôi phục, trả lại cho cộng đồng một di sản từng bị gián đoạn. Đại diện Sở VHTTDL Thanh Hóa khẳng định: “Chá Mùn là một di sản đặc biệt, kết tinh giữa tín ngưỡng, tri thức y học dân gian và tổ chức cộng đồng của người Thái. Phục dựng lễ hội không chỉ là phục hồi một nghi lễ, mà là khôi phục một hệ giá trị văn hóa. Quan điểm của chúng tôi là để cộng đồng làm chủ di sản, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ, định hướng”.
Từ năm 2018 đến nay, Lễ hội Chá Mùn được tổ chức thường niên tại xã Yên Thắng với quy mô cấp xã, từng bước phục hồi đầy đủ các nghi thức truyền thống. Lễ hội dần trở lại vị trí vốn có trong đời sống tinh thần của cộng đồng không phải một “sản phẩm trình diễn”, mà là một không gian tín ngưỡng sống động, nơi người dân tìm thấy sự che chở tinh thần và niềm tin vào cuộc sống. Sau quá trình kiểm kê, đánh giá và thẩm định khoa học, năm 2024, Bộ VHTTDL chính thức đưa Lễ hội Chá Mùn của người Thái xã Yên Thắng vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình lễ hội truyền thống, tập quán xã hội và tín ngưỡng. Đây là dấu mốc quan trọng, khẳng định giá trị nổi bật của Chá Mùn trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Tại Lễ đón nhận Quyết định công nhận di sản diễn ra vào tháng 10-2025, ông Đầu Thanh Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa nhấn mạnh: “Lễ hội Chá Mùn là kết tinh của lịch sử, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào Thái Yên Thắng. Việc lễ hội được Nhà nước ghi danh không chỉ là sự tôn vinh một di sản, mà còn là sự khẳng định vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa. Chá Mùn đã, đang và sẽ là cội nguồn tinh thần, là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc nơi đây”. Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị các cấp, các ngành và địa phương tiếp tục chủ động xây dựng kế hoạch bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị Lễ hội Chá Mùn gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, phát triển du lịch cộng đồng và sinh kế bền vững. Trong đó, cần đặc biệt phát huy vai trò của các mo Mùn, nghệ nhân, già làng và người có uy tín, những “chủ nhân thực sự” của di sản.
Hiện nay, Lễ hội Chá Mùn là một trong 28 di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Thanh Hóa đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhưng hơn cả con số, giá trị lớn nhất của Chá Mùn nằm ở việc lễ hội vẫn đang được thực hành, trao truyền và sống trong đời sống cộng đồng. Từ nền tảng đó, xã Yên Thắng đang triển khai Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Chá Mùn giai đoạn 2025 - 2030”, với mục tiêu đưa di sản vào trường học, sinh hoạt bản, đồng thời gắn với phát triển du lịch sinh thái ở Ngàm Pốc, bản Peo, chợ phiên vùng cao.
|
ĐƯA DI SẢN VÀO TRƯỜNG HỌC Hiện nay, Lễ hội Chá Mùn là một trong 28 di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Thanh Hóa đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhưng hơn cả con số, giá trị lớn nhất của Chá Mùn nằm ở việc lễ hội vẫn đang được thực hành, trao truyền và sống trong đời sống cộng đồng. Từ nền tảng đó, xã Yên Thắng đang triển khai Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Chá Mùn giai đoạn 2025 - 2030”, với mục tiêu đưa di sản vào trường học, sinh hoạt bản, đồng thời gắn với phát triển du lịch sinh thái ở Ngàm Pốc, bản Peo, chợ phiên vùng cao. |
Bài: NGUYỄN LINH; Ảnh: XUÂN CƯỜNG