Cổng làng Mông Phụ (Đường Lâm) được xây dựng vào năm 1833
Số lượng cổng của mỗi làng, vị trí của các cổng tùy thuộc đặc điểm địa hình, địa thế khu cư trú. Nếu các xóm được bố trí liền một khoảnh, làng không có đường liên làng chạy qua thì thường có một cổng chính (có thể nhiều hơn), là lối chính để đi vào làng và các cổng phụ, khách đều có thể vào làng “đường đường chính chính”. Ở các làng ven sông hoặc ven các con ngòi lớn, có đường đê hoặc đường liên làng chạy qua, các xóm được bố trí dọc theo đê hoặc đường liên làng (kết cấu kiểu xương cá), thì không có cổng làng chung, mà có một hệ thống cổng xóm, mỗi cổng có phong cách kiến trúc riêng; song ở lối vào của xóm “gốc” hay xóm chính của làng, cổng được xây bề thế hơn, nên được coi là cổng làng hay cổng chính của làng.
Cổng làng Ước Lễ (Hà Nội) Ảnh: Trần Trung Hiếu
Ngoài cổng chính, mỗi làng tùy theo địa hình, địa thế còn có các cổng hậu, tức cổng đi ra đồng (hoặc ra sông, ngòi) mà chỉ có người làng biết thông thạo và sử dụng. Cổng này còn dùng cho các gia đình chẳng may có người chết vào dịp làng có lễ thức chính (hoặc hội làng), linh cữu người chết không được đưa đi trên các trục đường chính, qua cổng chính của làng, mà phải qua các cổng phụ để ra nghĩa địa.
Hướng của cổng làng phụ thuộc vào hướng của khu cư trú cùng các yếu tố đồi, núi, sông ngòi bao quanh. Thông thường, cổng làng nhìn ra phía đường cái lớn, phía đồng lúa hoặc sông, ngòi, hướng đó có thể là Đông, Nam, Tây, cũng có thể là hướng Bắc, nhưng ít. Tuy cổng làng không phải tuân thủ ngặt nghèo về phong thủy như đình, chùa, đền miếu, song khi dự định dựng cổng làng, người làng đã phải rất lưu ý đến các yếu tố khác của cảnh quan xung quanh.
Cổng đình làng Thọ An (Quảng Ngãi) Ảnh: Lê Hồng Khánh
Cổng làng ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của làng. Ban đầu, khi làng mới hình thành, dân cư chưa đông và chưa đủ tiềm lực kinh tế, cổng làng chỉ là cổng bằng tre, hoặc ghép các đoạn tre lại với nhau, hoặc đan thành các tấm phên chắc chắn, ghép vào bộ khung tre, có then – chốt cài bên trong. Về sau, dân cư đông, kinh tế của dân làng khá dần, cổng làng được xây gạch nung, hoặc đá núi hay đá ong (ở vùng đồi, bán sơn địa). Nhà địa lý học người Pháp Pièrre Gourou cho rằng: “phải là làng nghèo lắm mới không có cổng bằng gạch”.
Cấu trúc và kiến trúc của cổng làng rất đa dạng, tùy thuộc vào vị trí - thế đất dựng cổng, vào điều kiện kinh tế của làng và óc thẩm mỹ của những người chịu trách nhiệm dựng cổng. Rất nhiều cổng có cấu trúc như một gian nhà, rất bình dị, thân thương, như cổng làng Mông Phụ (xã Đường Lâm, nay là phường Sơn Tây) hay làng Yên Thái (phường Bưởi). Một số cổng thuộc dạng này, song được xây theo kiểu chồng diêm (hai tầng mái). Nhiều cổng không có “trán’, không có mái, mà được tạo bởi các trụ cổng, trên mỗi trụ có các biểu tượng con vật linh thiêng, hay các họa tiết trang trí; cạnh mỗi trụ là bức tường ấn định giới hạn của cổng. Rất nhiều cổng có “trán” cao, tức có phần xây cao ở trên, để đắp các họa tiết trang trí và các chữ Hán (đại tự) với các nội dung khác nhau. Cũng có cổng bên ngoài có trán cao, bên trong là mái lợp ngói nhằm tạo chiều sâu cho cổng, vừa để trú mưa nắng hay để trẻ vui chơi. Lại có loại cổng “Thượng gia hạ môn” (hai tầng): tầng trên là nhà (dùng cho tuần phiên quan sát khi canh gác), tầng dưới là cổng, tạo ra sự bề thế cho cổng làng.
Cổng làng Tây Mỗ
Các cổng thuộc các dạng trên đây thường chỉ có một lối vào duy nhất, song nhiều cổng có ba lối (lối chính ở giữa, gọi là cửa chính và hai lối hai bên (gọi là cửa ngách). Một số ít cổng có đến 5 cửa (như cổng làng Yên Bình, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm cũ).
Cổng làng có cửa thường bằng gỗ lim chắc chắn, đặt trên khung có bánh xe bằng gỗ để đẩy. Buổi chiếu tối, giờ cụ thể tùy vào mùa Đông hay mùa Hè, thời điểm mùa vụ hay nông nhàn, sau Tiếng trống Thu không (hay Sưu không), dân làng đi làm hay đi chơi đều phải nhanh chóng trở về, vì tuần phiên đóng cổng làng, để “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, bảo vệ an ninh về đêm.
Cổng làng Thổ Hà (Bắc Ninh)
Trên trán cổng làng, thường đắp các chữ Hán khổ lớn (đại tự), nội dung có thể là tên làng, hoặc các chữ chỉ truyền thống của làng, ước vọng của dân làng… Trên các cột trụ đắp hoặc viết các đôi câu đối, cũng có nội dung phản ánh truyền thống của làng, ước vọng của dân làng.
Ở sát hai cột trụ chính hoặc cột trụ phụ dựng hai con chó đá (sấu đá); mục đích để cảnh báo kẻ trộm vào ban đêm và canh giữ “phần âm” của khu vực di tích.
Phía trong và cả phía ngoài cổng, ở hai bờ tường trong cùng, sát đường làng, thường có hai dãy đá làm ghế cho người làng ngồi hóng mát vào mùa hè; hoặc ngồi nghỉ tạm.
Phía ngoài các cổng, thường có cây đa (hoặc cây đề) xum xuê, tỏa bóng mát ra một khoảng đất rộng, dưới gốc đa thường có quán nước chè xanh, quà bánh bình dân, do một phụ nữ cao tuổi bán. Cạnh cây đa có thể có giếng đất (giếng làng). Cạnh giếng thường có miếu nhỏ, thờ thần giếng nước. Có làng còn dựng ngôi nhà cầu ở bên cạnh để dân làng nghỉ chân, trú mưa nắng khi đi làm đồng về, hoặc trò chuyện, tập hợp để chuẩn bị tiến hành một công việc nào đó.
Cổng làng Vĩnh Yên (Diễn Lộc, Nghệ An)
Nhìn chung, cổng làng như là một điểm nhấn trong bố cục hài hòa với các yếu tố của không gian làng (lũy tre, đường làng, bến nước, đồng ruộng phía ngoài…). Cổng làng phản ánh một phần lịch sử làng, sự trù mật về dân cư, sự trù phú về kinh tế và bề dày văn hóa, thể hiện sự bề thế của làng.
Cổng làng nhìn bề ngoài là yếu tố vật chất, nhưng bên trong chứa đựng và phản ánh những ý nghĩa, giá trị xã hội và văn hóa tinh thần rất rõ nét. Cổng làng gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của làng, chứng kiến bao thăng trầm của mỗi cộng đồng cư dân Việt, gắn với tâm tư tình cảm, bao kỷ niệm vui buồn của các thế hệ người nông dân, phản ánh và mang giá trị kiến trúc, mỹ thuật, lịch sử, cả quan niệm về triết lý sống... Ngắm cổng làng với các khối kiến trúc, biểu tượng trang trí, các chữ Hán trên trán, các đôi câu đối trên cột, có thể nhận biết hay đoán định được một phần làng đó qua các khía cạnh về lịch sử, dân số, kinh tế, truyền thống, sự thành đạt, thậm chí tính cách người làng.
Cổng làng Nôm (Hưng Yên)
Với vị trí ở đầu làng, với đặc điểm của cư dân nông thôn, cổng làng vô hình trung đảm nhận chức năng và có giá trị phản ánh dư luận xã hội. Mỗi chiều về, các thông tin lành dữ, vui buồn về làng, về người làng thường được phát ra từ cổng làng, có hệ quả, tác dụng chia sẻ, phê phán với các mức độ khác nhau, trở thành luồng “thông tin cổng làng”, song lại hiện hữu là “chính thống” và tạo dư luận mạnh mẽ hơn nhiều so với “thông tin vỉa hè” ở đô thị. Từ yếu tố vật chất giữa vai trò bảo vệ an ninh, cổng làng trở thành một địa chỉ, một dấu ấn văn hóa của một cộng đồng cư dân; là một trong những thành tố của làng, vừa mang tính vật thể, vừa mang tính phi vật thể, bao hàm cả nhiều yếu tố xã hội sâu sắc. Cổng làng in dấu ấn đời người của bao thế hệ người nông dân từ khi còn là cậu bé lần đầu tiên bước ra cổng làng để thu nhận thế giới ngoài làng đến lần cuối cùng ra khỏi làng, về với thế giới bên kia.
Từ khi thực hiện công cuộc hợp tác hóa, xây dựng nông thôn mới (đầu thập niên 1960 trở đi, cổng làng ở nhiều nơi bị phá; số làng giữ được cổng làng không nhiều và theo thời gian, năm tháng, cổng làng xuống cấp, nhiều bộ phận, chi tiết bị vỡ, gãy, các chữ Hán (chữ lớn trên trán cổng hoặc chữ nhỏ ở câu đối hai bên cửa) bị sứt mẻ hoặc mờ, trong khi không có tài liệu lưu, nên khi khôi phục lại cổng, phải thay thế bằng chữ Việt.
Cổng phía Nam làng cổ Dịch Diệp (Nam Định) được xây dựng từ năm 1864.
Từ năm 1990 trở đi, trong xu thế tìm về quá khứ, nhiều làng dựng lại cổng làng, song khuôn viên dành cho cổng làng (hoặc cổng xóm) trước đây không còn, không đủ diện tích để dựng lại cổng theo quy mô cũ; hoặc chỉ đủ diện tích để dựng lại cổng một cách rất giản đơn. Nhiều làng trước năm 1960 có đến hàng chục cổng xóm, đến nay phải xây ghép cổng cho 2- 3 xóm trên một vị trí khác. Các làng còn đủ không gian - diện tích đất dựng lại cổng song nhiều cổng được xây như cổng chào, với đủ dạng hình thù, cấu trúc: hoặc làm trụ bê tông và khung sắt, hoặc xây bằng gạch, to nhỏ khác nhau. Hầu hết cổng chào đều đắp (viết, kẻ) tên làng (thôn), ghi chú thêm tên cũ hoặc chú thêm danh hiệu “làng văn hóa” bằng chữ Việt. Vào các dịp lễ, Tết, có sự kiện chính trị, cổng chào được treo băng rôn, khẩu hiệu. Cổng chào này vô hình trung chỉ có 2 chức năng là thông báo tên thôn làng và phục vụ tuyên truyền. Một số làng xây hoặc phục dựng cổng làng theo cấu trúc, kiến trúc, song kỹ thuật xây, đắp và tính thẩm mỹ thì thua xa cổng làng truyền thống. Cổng làng (hoặc cổng xóm) xây mới hoặc phục dựng ngày nay không còn là một điểm nhấn trong bố cục hài hòa với không gian làng như trước.
PGS.TS Bùi Xuân Đính