Bìa cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc xuất bản năm 1925, bản in, tiếng Pháp. Hiện vật gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
1. Văn hóa khai mở nhận thức và định hướng con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Ngay từ đầu thế kỷ XX, trước tình cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng muốn cứu nước, giải phóng dân tộc trước hết phải tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Người đã sử dụng ngòi bút như một “vũ khí văn hóa” sắc bén, góp phần thức tỉnh tinh thần phản kháng của các dân tộc thuộc địa nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.
Trong số những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ đầu hoạt động cách mạng, Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) có thể xem là một minh chứng điển hình cho vai trò “soi đường” của văn hóa trong việc khai mở nhận thức dân tộc. Bằng lập luận chặt chẽ, ngôn ngữ giàu tính chiến đấu và sức thuyết phục, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất áp bức, bóc lột của chế độ thực dân Pháp, từ đó thức tỉnh xã hội, giúp người dân nhận rõ bản chất của chế độ thực dân và khơi dậy ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc.
Nếu “Bản án chế độ thực dân Pháp” là tiếng chuông cảnh tỉnh, giúp nhân dân nhận thức rõ bản chất của chế độ thực dân, thì “Đường Kách mệnh” (1927) chính là ngọn đuốc chỉ đường cho dân tộc Việt Nam trong hành trình tìm kiếm con đường giải phóng. Tác phẩm trình bày một cách hệ thống những vấn đề căn bản của cách mạng, với mục đích để: “đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh dậy rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh”(2). Đặc biệt, Người nhấn mạnh vai trò quyết định của lý luận đối với thắng lợi của cách mạng khi khẳng định: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động”(3). Tác phẩm được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam, định hướng cho mọi hoạt động của cách mạng Việt Nam thời kỳ đó và các giai đoạn tiếp theo.
Có thể thấy, ngay từ thời kỳ đầu hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước hình thành một quan niệm nhất quán về vai trò của văn hóa trong việc khai mở nhận thức, giúp Nhân dân nhìn rõ bản chất của áp bức, nhận thức đúng con đường phát triển và xây dựng lực lượng con người đủ phẩm chất để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc.
2. Văn hóa khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết và khát vọng độc lập dân tộc
Bước sang đầu những năm 1940, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến sâu sắc, nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam là tập hợp sức mạnh toàn dân để giành chính quyền. Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy vai trò của văn hóa như một phương thức giáo dục lịch sử, truyền cảm hứng yêu nước và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Năm 1941, Người viết “Kính cáo đồng bào”, kêu gọi toàn dân tham gia sự nghiệp cứu nước. Với ngôn ngữ giản dị, gần gũi, đi thẳng vào trái tim người dân bằng lời hiệu triệu chân thành: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm”(4). Lời hiệu triệu ấy không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn thể hiện sức mạnh của văn hóa trong việc kết nối cộng đồng và khơi dậy tinh thần trách nhiệm công dân.
Để giáo dục lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước và củng cố ý thức dân tộc, bằng thể thơ lục bát gần gũi, tác phẩm “Lịch sử nước ta” (1942) đã khái quát tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, qua đó giáo dục lòng yêu nước và ý thức dân tộc cho quần chúng nhân dân. Câu thơ: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”(5) đã trở thành lời nhắc nhở sâu sắc về vai trò của lịch sử đối với sự tồn vong của dân tộc.
Đỉnh cao của quan điểm “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” trong giai đoạn này được thể hiện qua bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Người soạn thảo, công bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới ngày 02-9-1945. Nhìn từ góc độ văn hóa, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là văn kiện khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn là một tuyên ngôn văn hóa của dân tộc Việt Nam hiện đại:“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(6). Sâu xa hơn, “soi đường” trong Tuyên ngôn Độc lập là soi sáng một chân trời mới của dân tộc. Từ đây, nhân dân Việt Nam thoát khỏi thân phận nô lệ trở thành chủ thể của một quốc gia độc lập. Nếu ở giai đoạn trước văn hóa giúp dân tộc nhận ra con đường cần đi, thì ở giai đoạn này, văn hóa trở thành nguồn lực tinh thần giúp cả dân tộc đoàn kết và vững bước trên con đường ấy.
3. Văn hóa soi đường cho kháng chiến, kiến quốc và tương lai dân tộc
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, quan điểm “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được phát triển ở tầm sâu sắc hơn. Năm 1947, Người viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh tồn tại trong đội ngũ cán bộ: “Trong Đoàn thể ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc,…”(7). Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải sửa chữa các khuyết điểm và phải đặc biệt chú trọng bồi dưỡng đạo đức cách mạng. Trong bài viết: “Đạo đức cách mạng” (1958), Người tiếp tục khẳng định đạo đức là nền tảng của người cách mạng, Người nhấn mạnh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do sự đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố”(8). Ở đây, quan điểm “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” được thể hiện sâu sắc qua việc xác định vai trò của văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức và văn hóa lãnh đạo đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên - lực lượng trực tiếp tổ chức và dẫn dắt nhân dân trong sự nghiệp cách mạng.
Đối với văn hóa, nghệ thuật, Hồ Chí Minh luôn coi đây là một mặt trận đặc biệt. Người cho rằng: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"(9), đồng thời, văn hóa văn nghệ phải gắn bó với thực tiễn của đời sống nhân dân, phục vụ quần chúng nhân dân, có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và thời đại và phải đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân. Điều này thể hiện tư duy cởi mở, nhân văn của Hồ Chí Minh trong phát triển văn hóa, hướng tới xây dựng một nền văn hóa vừa giàu bản sắc dân tộc, vừa đa dạng, sáng tạo và phục vụ con người.
Đỉnh cao trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò định hướng của văn hóa được thể hiện sâu sắc trong “Di chúc” - văn kiện kết tinh tư tưởng, nhân cách và tầm nhìn chiến lược của Người đối với tương lai dân tộc. Di chúc đã chỉ dẫn những công việc cực kỳ hệ trọng có tính định hướng cho sự phát triển của đất nước, “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”.(10) Người cũng chỉ ra những công việc đối với con người sau chiến tranh phải bằng các chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục cụ thể, thiết thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi những việc trên đây là “rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang”. Có thể nói, Di chúc là phác thảo toàn diện về một chương trình xây dựng và đổi mới đất nước sau chiến tranh, là những gợi mở có tính cương lĩnh cho sự nghiệp đổi mới mà Đảng và nhân dân ta đang tiến hành hiện nay.
Từ quá trình hình thành, phát triển và hiện thực hóa trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, có thể khẳng định quan điểm “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lịch sử mà còn tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Tinh thần ấy tiếp tục được Đảng ta kế thừa, phát triển trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07-01-2026 của Bộ Chính trị, khi lần đầu tiên xác định văn hóa là nền tảng, động lực then chốt, trụ cột phát triển và hệ điều tiết quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững đất nước; đồng thời khẳng định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai dân tộc, cho năng lực cạnh tranh và “sức mạnh mềm” quốc gia. Trong nghiên cứu, giáo dục và lan tỏa tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, hệ thống tài liệu, hiện vật lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh là nguồn sử liệu quý, góp phần làm sáng rõ giá trị lý luận và thực tiễn của quan điểm này. Cùng với giá trị lưu giữ ký ức lịch sử, mỗi tài liệu, hiện vật được lưu giữ tại Bảo tàng tiếp tục kể câu chuyện về sức mạnh dẫn đường của văn hóa, để tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được ghi nhớ như di sản của quá khứ mà còn sống động như ánh sáng soi đường cho hiện tại và tương lai dân tộc.
-----------------------
1 - Báo Cứu Quốc, số 416, ngày 25/11/1946, tr. 4.
2 - Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 283.
3- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 2, tr. 279.
4 - “Kính cáo đồng bào”, ngày 06/6/1941, tài liệu viết tay, tiếng Việt. Ảnh chụp tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
5 - Tác phẩm “Lịch sử nước ta” (1942), bản in, tiếng Việt. Hiện vật gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
6 - “Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ngày 02/9/1945. Tài liệu trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
7 - Sách “Sửa đổi lối làm việc” bản in năm 1948, tiếng Việt, tr.53 - 54. Hiện vật gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
8 - Bài “Đạo đức cách mạng”, tháng 12/1958, bản thảo đánh máy, tiếng Việt. Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
9 - Bản thảo: Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, bản thảo đánh máy, tiếng Việt. Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
10 - Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản viết tay năm 1968. Tài liệu bản sao trưng bày tại Bảo tàng
Hồ Chí Minh.
-------------------------------------
TS PHẠM THỊ THANH MAI
Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh