1. Ngũ kinh Bác sĩ
Nguyễn Uyên Hậu
Theo “Phượng Dương Nguyễn tông thế phả”(1), từ thế kỷ XV, vị Thủy tổ dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu là Nguyễn Uyên Hậu đã giữ chức Ngũ kinh Bác sĩ, dạy năm kinh ở Quốc Tử Giám.
Thời Lê, theo Phan Huy Chú Lịch triều hiến chương loại chí, ở Quốc Tử Giám có các chức quan: Tế tửu, Tư nghiệp, Trực giảng, Giáo thụ, Bác sĩ với các phẩm hàm từ tứ phẩm trở xuống. Tế tửu là chức quan đứng đầu (Hiệu trưởng), Tư nghiệp (Hiệu phó) - tương ứng trong 9 phẩm hàm từ Tế tửu - tòng tứ phẩm, Tư nghiệp - tòng ngũ phẩm, Giáo thụ - chánh bát phẩm. Trước đó thời Lê sơ có thêm chức Ngũ kinh Bác sĩ, thời Lê Trung hưng bỏ.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, tập 2, Nxb Văn Hóa - Thông Tin, năm 2004, trang 283 ghi “Năm Đinh Hợi, 1467 (triều Vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận thứ 8), tháng Ba, bắt đầu đặt chức Ngũ kinh Bác sĩ”, phần chú thích như sau: “Ngũ kinh Bác sĩ: chức bác sĩ chuyên trị về ngũ kinh để dạy học trò ở Quốc Tử Giám. Bấy giờ các Giám sinh học kinh Thi, kinh Thư thì nhiều; học Lễ ký, Chu dịch, Xuân thu thì ít, cho nên đặt chức Ngũ kinh Bác sĩ, mỗi người chuyên trị một kinh để dạy học trò. Chức này thời Lê Trung hưng về sau bỏ”.
Như vậy, cụ Uyên Hậu có thể làm quan từ sau năm 1467 niên hiệu Quang Thuận thời Vua Lê Thánh Tông.
Thời đó, phép thi Hội gồm 4 trường, trường nhất thường thi Ngũ kinh, tức 5 cuốn sách kinh điển của kiến thức xưa, bao gồm: Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Thi và Kinh Xuân thu.
Để được tuyển dụng vào chức Ngũ kinh Bác sĩ thì người đó phải có học vị tối thiểu là Hương cống, thường đã đỗ Tam trường thi Hội, như vậy ta thấy Nguyễn Uyên Hậu, đỗ Hương cống, được bổ chức Ngũ kinh Bác sĩ, giảng dạy ở Quốc Tử Giám nhưng không rõ cụ đỗ Hương cống khoa nào, giảng dạy ở Quốc Tử Giám thời gian nào, nhưng chắc chắn phải sau năm 1467.
Nhưng có một mốc thời gian giúp ta hiểu được thêm là con trai Nguyễn Uyên Hậu là Nguyễn Hàm Hằng, theo bản gia phả mới được biên dịch năm 2012, thì cụ Hằng sinh năm Giáp Ngọ (1454), là học trò lớp trên ở Quốc Tử Giám - Đường Thượng xá sinh và là con rể của cụ Nguyễn Tâm Hoằng (1434-?) người làng Vĩnh Gia nay thuộc xã Kim Song Trường. Cụ Nguyễn Tâm Hoằng, sinh năm 1434, đỗ Tiến sĩ năm 1478, lúc 45 tuổi, làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Lễ, tôn phong Tá lý công thần. Cụ Nguyễn Tâm Hoằng lấy vợ cũng họ Nguyễn ở cùng làng và có 10 con gái, con gái cả lấy Nguyễn Hàm Hằng sau con cháu thành dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu. Hiện nay ở làng Vĩnh Gia còn mộ của hai cụ, đã được xây cẩn thận, hai cụ được thờ cúng ở nhà thờ họ Nguyễn làng Vĩnh Gia.
Như vậy cụ Nguyễn Uyên Hậu và cụ Nguyễn Tâm Hoằng là cùng thời và một cụ đỗ Hương cống là viễn tổ bên nội, một cụ đỗ Tiến sĩ là viễn tổ bên ngoại của họ Nguyễn Huy Trường Lưu. Nguyễn Uyên Hậu là người đầu tiên của dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu làm Học quan ở Quốc Tử Giám.
Cụ Nguyễn Uyên Hậu từng đỗ kỳ thi Hương và được dạy ở Quốc Tử Giám. Thời bấy giờ học hành ở Quốc Tử Giám là con cái các quan trong triều, các ông Cống học để chuẩn bị thi Hội. Chức Học quan này là chuyên dạy năm kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Thi và Kinh Xuân thu, là người tối thiểu phải đỗ Hương cống, Tam trường thi Hội. Về sự nghiệp giảng dạy của cụ Uyên Hậu chưa có tài liệu gì.
2. Bốn thầy giáo họ
Nguyễn Huy ở Quốc Tử Giám
Một nét nổi bật của truyền thống họ Nguyễn Huy Trường Lưu là truyền thống “học không mỏi” và “dạy không chán”. Lúc bé học với người thân, các thầy giáo ở vùng quê, lớn lên đến với những thầy, những trường có tiếng tăm để học, mặc dù phải xa quê hương bản quán. Sau khi thi đỗ làm quan thì tranh thủ dạy học, dạy ở Quốc Tử Giám, ở nơi mình làm quan. Lúc về nghỉ hưu thì mở trường ở quê giảng dạy cho con cháu trong họ, trong làng. Các trường học ngày càng nổi tiếng, sĩ tử khắp nơi đến tìm về học tập. Có thời (lúc Nguyễn Huy Oánh và Nguyễn Huy Quýnh về quê dạy học, quãng năm 1780-1783) học trò tới vùng Trường Lưu lên tới “nghìn người”. Nhiều danh sĩ thời bấy giờ đã qua trường học ở Trường Lưu. Nguyễn Huy Oánh được nhận xét là “nhà giáo kiệt xuất đất Hoan Châu”, hơn 30 năm “dạy không chán” ông đã đào tạo được gần 30 Tiến sĩ, còn “Tri phủ, Hương cống thì không kể xiết”. Trong dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu có các vị sau từng dạy ở Quốc Tử Giám, ngoài thủy tổ của dòng họ, đã giới thiệu ở trên (mục I).
Đến thế hệ thứ 10 có hai thầy giáo của họ Nguyễn Huy đã giảng dạy ở Quốc Tử Giám là Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) và Tiến sĩ Nguyễn Huy Quýnh (1734-1785).
3. Tế tửu Nguyễn Huy Oánh- “nhà giáo kiệt xuất”
đất Hoan Châu
Năm Long Đức thứ nhất (1732) sau khi đỗ đầu kỳ thi Hương, Nguyễn Huy Oánh dựng trường ở phía Nam làng dạy học, học trò tụ tập theo học có đến hơn vài trăm người. Năm Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748) Nguyễn Huy Oánh trúng cách khoa thi Hội và khi vào thi Đình ông đỗ Đình Nguyên (Thám hoa) và tiếp đó là quãng đường ba mươi năm vừa làm quan vừa dạy học. Năm Kỷ Mão (1759) ông từ Sơn Nam được triệu về kinh thành và được giao chức Nội giảng trực tiếp dạy cho Thế tử Trịnh Sâm, người sẽ nối nghiệp chúa sau này, và kiêm chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám.
Giai đoạn thứ hai là sau lúc ông về quê trí sĩ tại làng Trường Lưu. Ở đây ông đã dựng Trường Lưu học hiệu, lập thư viện Phúc Giang chứa “hàng vạn quyển sách” học trò theo học rất đông. Tại Trường Lưu nhiều người họ Nguyễn Huy cũng tham gia viết sách, khắc bản gỗ và dạy học trò như Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Quýnh. Phúc Giang thư viện có lẽ là thư viện đầu tiên có sắc phong chính thức của Nhà nước, nay còn giữ được hai bản sắc vào các năm 1783 và 1824. Do công hoạt động văn hóa, dạy học và mở thư viện mà Nguyễn Huy Oánh được phong làm Thần, tước Vương. Sau khi Chúa Trịnh Tông lên ngôi, Nguyễn Huy Oánh ra kinh thành Thăng Long và năm 1783 được phong chức Tế tửu Quốc Tử Giám.
Trong giảng dạy ông dựa vào khả năng của từng người nhằm đạt đến chỗ thành tựu. Các danh sĩ có tiếng một thời đều đến học với ông. Học trò thi đỗ cao và làm quan đồng triều tới hơn 30 người như: Trương Đăng Quỹ người Thanh Nê, Trần Công Xán người Yên Vĩ, Phạm Nguyễn Du người Thạch Động, Phạm Quý Thích người Hoa Đường v.v. Ngày nay còn lưu lại bức trướng mừng Nguyễn Huy Oánh có ghi tên 24 vị Tiến sĩ là học trò của ông, trong đó có Phạm Đình Dự (1742-?) sau làm Tri Quốc Tử Giám, Chu Nguyên Lệ (1740-?) làm Quốc Tử Giám Tùy giảng, trong trướng mừng thọ mẹ Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Nghiễm ghi chức vụ của mình là Tri Quốc Tử Giám, trong khi gia phả ghi là Tế tửu, chúng tôi chưa rõ Tri Quốc Tử Giám và Tế tửu Quốc Tử Giám có phải là một không?
Nguyễn Huy Oánh là tác giả của 5 tập sách đi sứ, trong đó có Hoàng Hoa sứ trình đồ được ghi vào Danh mục Di sản Tư liệu thế giới MOWCAP năm 2018.
Ông cùng cha là Nguyễn Huy Tựu, các em là Nguyễn Huy Cự và Nguyễn Huy Quýnh, con là Nguyễn Huy Tự là năm tác giả của Mộc bản Trường học Phúc Giang - Di sản MOWCAP ghi danh năm 2016.
4. Nguyễn Huy Quýnh 2 lần làm quan Trực giảng
Thời xưa, thường vừa đi học vừa đi dạy, Nguyễn Huy Quýnh, như ông thường bảo với con trai là, từ năm 17 tuổi “đã dạy học để tự chu cấp”. Trong thời gian ở quê và hai dịp về cư tang mẹ đích, từ 1775 đến 1777, và mẹ đẻ từ 1781 đến 1783 ông tham gia nhiều vào việc đào tạo học trò ở Phúc Giang thư viện. Tài liệu chép, ông dạy học trò nhiều người đỗ Tiến sĩ, cùng làm quan tại triều, tiếc là ở đây không ghi rõ họ tên các học trò của Nguyễn Huy Quýnh.
Chính thức từ năm 1777, ông nhận chức Nhập thị Nội giảng tham gia việc giảng dạy ở phủ chúa. Hai lần ông giữ chức Trực giảng ở Quốc Tử Giám lần đầu từ năm 1781 “học trò bốn phương đều quy phục”, lần sau từ tháng 2 năm 1874, khi ông giảng luận kinh nghĩa, các triều sĩ đều khen ông là “Hòm sách của Lai Thạch” và khi ông được cử đi làm quan ngoài, “Học sinh nhà Thái học họp lại kể mấy trăm người xin giữ người ở lại”.
Dạy học đã vậy, đối với việc thi cử để tuyển chọn người tài ông lại càng nghiêm minh. Hành trạng ông cho biết, năm Kỷ Hợi (1779), khi ông làm Giám khảo trường thi Thanh Hóa, ông rất công tâm lấy đỗ đúng thực chất, chỉ trích quan Đồng khảo và quan Lưu thủ ở đây là Mãn Quận công, nhờ đó trường thi nghiêm túc trở lại. Việc ông được cử đi Thuận Hóa làm Đốc thị và cũng kiêm luôn Đề đốc Học chính, lo việc học tập cũng làm rõ ông là một người có uy tín trong giới học quan thời bấy giờ.
5. Phó Đốc học Quốc Tử Giám Nguyễn Huy Tá
Ông thuộc thế hệ thứ 11 họ Nguyễn Huy Trường Lưu thời Vua Gia Long làm Đốc học tỉnh Bắc Ninh, năm 1807 thăng Phó Đốc học Quốc Tử Giám. Không rõ ông giữ chức quan này bao lâu và sự nghiệp giảng dạy của ông như thế nào. Chưa rõ việc giảng dạy của Nguyễn Huy Tá cũng như ông làm Phó Đốc học ở Quốc Tử Giám bao lâu, ở Huế hay ở Thăng Long?
Sách Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ quyển 59 “Lấy Hương cống đời Lê là Nguyễn Quốc Bảo làm Đốc học Quốc Tử Giám, Nguyễn Huy Tá làm Phó Đốc học” năm Kỷ Mão, Gia Long năm thứ 18 (1819). Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ quyển 45 “Nguyễn Huy Tá làm Phó đốc học Quốc Tử Giám cho đến năm 1827 thì ra làm Đốc học Bắc Ninh” và đến năm 1829 vì ốm nghỉ việc. Trong gia phả ghi Nguyễn Huy Tá được phong tước là Thử Đình hầu.
Nhiều người trong họ Nguyễn Huy Trường Lưu tham gia giảng dạy ở phủ Thế tử với chức: Nhập nội Thị giảng như Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Tiêu... Năm 1759, sau khi đỗ thứ 5 khoa thi Hương, Nguyễn Huy Tự ra kinh thành nhận chức Nhập nội Thị giảng ở phủ Thế tử Trịnh Sâm.
Trong Phượng Dương Nguyễn tông thế phả còn ghi lại tên của 7 vị người họ Nguyễn Huy Trường Lưu là Quốc Tử Giám Giám sinh. Thời Lê, Quốc Tử Giám Giám sinh là con quan lại, hoặc những người đã đỗ Hương cống được học ở Quốc Tử Giám để chờ thi Hội hoặc chờ bổ làm quan. Ai đỗ Tam trường thi Hội thì được là Đường thượng xá sinh, Nhị trường thi Hội thì là Trung xá sinh...
Nguyễn Hàm Hằng thế hệ thứ 2 họ Nguyễn Huy Trường Lưu, sinh năm 1454, là Đường thượng xá xinh, con thứ của ông là Nguyễn Thừa Nghiệp cũng là Giám sinh, cả hai đều thời Hồng Đức.
6. Đổng lý Quốc Tử Giám Nguyễn Huy Tiêu
Ông là con thứ của Nguyễn Huy Cự, đỗ Hương cống, tham gia dạy chúa Trịnh Sâm - Nhập thị Nội giảng sau làm Đổng lý Quốc Tử Giám. Ông là con rể của Thám hoa Phan Kính.
Trong số những người có gốc là họ Nguyễn Huy Trường Lưu có Phan Huy Cận đỗ Tiến sĩ là em trai cùng cha khác mẹ với Nguyễn Huy Oánh cũng từng tham gia dạy học ở Quốc Tử Giám.
Một số Giám sinh
Vào giữa thế kỷ XV, sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, các vua thời Lê sơ: Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông cùng triều thần tập trung mở mang dân trí, ổn định chính quyền các cấp, hoạch định bản đồ… Để có nhân tài, nhà Lê rất săn sóc mở mang việc học. Tại kinh đô có Quốc Tử Giám. Nhà Thái học ở sau Văn Miếu có các giảng đường, bí thư khố và nhà ký túc. Tại các phủ thì có trường của phủ. Ở các xã, thôn thì quan lại nghỉ hưu hay các thầy đồ mở trường làng, trường trong nhà, giảng dạy. Con đường tiến thân chủ yếu qua thi cử học hành. Tại các trường ở Quốc Tử Giám, ở phủ thì con em quý tộc quan liêu có độc quyền theo học. Con dân thường, nếu thi Hương trúng Tam trường thì được sung làm Sinh đồ bản phủ, thi Hương trúng Tứ trường thì được sung Tăng quảng đường sinh ở Quốc Tử Giám. Giám sinh Quốc Tử Giám mà thi Hội trúng Tam trường thì được vào Thái học viện sung thượng xá sinh. Các vị đó là:
1. Nguyễn Hàm Hằng, đỗ Hương cống năm 1469
2. Nguyễn Thừa Nghiệp (thời Hồng Đức)
3. Nguyễn Sĩ Dung đỗ Hương cống năm 1729
4. Nguyễn Huy Đính đỗ Hương cống 1732
5. Nguyễn Công Lâm đỗ Hương cống năm 1743 - Thủ phủ Giám sinh
6. Nguyễn Huy Thiềm đỗ Hương cống năm 1768
7. Nguyễn Huy Bá đỗ Hương cống năm 1771
Trong đó Nguyễn Công Lâm là cậu của Thám hoa Phan Kính (1715- 1761), có công trong việc giúp đỡ Phan Kính học hành.
Triều Nguyễn có Nguyễn Huy Chương là Giám sinh Quốc Tử Giám, sau làm Đề lại ở phủ Đức Thọ, là người sao chép Phượng Dương Nguyễn Tông thế phả và đóng gộp Quảng Thuận đạo sử tập chuyển cho GS Hoàng Xuân Hãn năm 1943.
Ảnh hưởng của Quốc Tử Giám với văn hóa của dòng họ
Từ giữa thế kỷ XVIII, với sự tiếp thu văn hóa từ Quốc Tử Giám, Trường Lưu thực sự là một điểm văn hóa với điều đặc biệt nhất của truyền thống hiếu học, trọng văn chương trên mảnh đất này là sự xuất hiện của các cơ sở giáo dục dòng họ/cộng đồng từ khá sớm. Đó là dòng họ Nguyễn Huy ở làng Trường Lưu từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với những “Phúc Giang thư viện”, “Trường Lưu học hiệu”… quy mô gần ngang Quốc Tử Giám, có gần 3 vạn bản sách, học trò gần 30 người đậu Tiến sĩ… Đây cũng là dòng họ duy nhất trong cả nước sở hữu ba di sản Tư liệu ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO, “Mộc bản trường học Phúc Giang” (2015), “Hoàng Hoa sứ trình đồ” (2018) và “Văn bản Hán Nôm ở làng Trường Lưu”. Dòng họ này cùng với cự tộc Nguyễn - Tiên Điền (Nghi Xuân) với những tác gia, tác phẩm văn học đỉnh cao như kiệt tác Truyện Kiều- Nguyễn Du, người được UNESCO vinh danh năm 2015, Hoa tiên - Nguyễn Huy Tự, Mai Đình mộng kí - Nguyễn Huy Hổ… đã làm nên một sự kiện văn học danh tiếng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX là “Hồng Sơn văn phái”.
GS.VS Nguyễn Huy Mỹ