Nguồn tài nguyên đặc biệt của công nghiệp văn hóa

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam hiện có hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh; hàng chục nghìn di sản văn hóa phi vật thể; 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh; 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới cùng hàng nghìn lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công, kho tàng văn học dân gian, nghệ thuật trình diễn và tri thức bản địa phong phú. Đây là nguồn “vốn văn hóa” đặc biệt mà không phải quốc gia nào cũng sở hữu.

Quảng Ninh với Vịnh Hạ Long là điểm nhấn, trong năm 2025 đã đón khoảng 20 triệu lượt khách (doanh thu khoảng 50 tỷ đồng).             Nguồn ảnh: grandpioneers.com

Chuyển hóa di sản thành sản phẩm công nghiệp văn hóa
Thực tiễn phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam cho thấy nhiều loại hình di sản đã và đang được chuyển hóa thành các sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế cao.
Trong lĩnh vực du lịch văn hóa, các di sản thế giới được UNESCO ghi danh  trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Quần thể Di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Quần thể Danh thắng Tràng An hay Vịnh Hạ Long đều trở thành những “thương hiệu văn hóa” góp phần quan trọng vào tăng trưởng du lịch địa phương. Năm 2025, tại Quảng Ninh - nơi có Vịnh Hạ Long nổi tiếng - ngành du lịch ước đón khoảng 20 triệu lượt khách, doanh thu khoảng 50.000 tỷ đồng. Ninh Bình, với hạt nhân là Quần thể Danh thắng Tràng An, đón gần 19,42 triệu lượt khách và đạt doanh thu hơn 21.278 tỷ đồng. Trong khi đó, Huế với hệ thống di sản cung đình triều Nguyễn có doanh thu du lịch đạt 13.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy khi di sản được bảo tồn và khai thác hiệu quả, chúng không chỉ tạo ra giá trị văn hóa mà còn trở thành động lực tăng trưởng kinh tế và phát triển công nghiệp văn hóa ở địa phương.
Trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, nhiều làng nghề truyền thống đã phát triển thành các trung tâm sản xuất hàng hóa văn hóa phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm gốm Bát Tràng, gốm Chu Đậu, lụa Vạn Phúc, sơn mài Hạ Thái, mây tre đan Phú Vinh, đá mỹ nghệ Non Nước; gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, thêu ren Quất Động... không chỉ chứa đựng giá trị văn hóa truyền thống mà còn trở thành những sản phẩm sáng tạo mang dấu ấn Việt Nam trên thị trường quốc tế. Hiện sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 10% thị phần toàn cầu. Đây là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cao và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn. 
Nghệ thuật trình diễn truyền thống cũng đang được khai thác theo hướng công nghiệp văn hóa. Các chương trình thực cảnh như “Ký ức Hội An”, “Tinh hoa Bắc Bộ”, “Áo dài show”, “Huyền thoại tuổi thanh xuân” hay các chương trình nghệ thuật phục vụ khách du lịch đã góp phần đưa các giá trị văn hóa dân gian, lịch sử và nghệ thuật truyền thống đến với công chúng bằng những hình thức thể hiện hiện đại. Riêng chương trình “Ký ức Hội An” từng được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những chương trình biểu diễn thực cảnh quy mô lớn và hấp dẫn của khu vực châu Á.

Di sản văn hóa trong công nghiệp sáng tạo và môi trường số
Sự phát triển của công nghệ số đang mở ra những cơ hội mới để khai thác giá trị di sản văn hóa trong các ngành công nghiệp sáng tạo.
Trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều nghệ sĩ trẻ đã thành công khi đưa chất liệu văn hóa dân tộc vào các sản phẩm đương đại. Các ca khúc và MV như “Bắc Bling” của Hòa Minzy, “See Tình” của Hoàng Thùy Linh, “Về nghe mẹ ru” của Hứa Kim Tuyền hay các chương trình của Phương Mỹ Chi đã khai thác dân ca, nhạc cụ truyền thống, trang phục và hình ảnh văn hóa Việt Nam theo ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại. Những sản phẩm này không chỉ tạo hiệu ứng mạnh mẽ trong nước mà còn lan tỏa trên các nền tảng số quốc tế như YouTube và TikTok.
Trong điện ảnh, nhiều tác phẩm thành công cũng lựa chọn khai thác chiều sâu văn hóa dân tộc. Bộ phim “Bên trong vỏ kén vàng” của đạo diễn Phạm Thiên Ân giành giải Caméra d’Or tại Liên hoan phim Cannes năm 2023 là một ví dụ tiêu biểu. Bên cạnh đó là hàng loạt phim của các đạo diễn như Trấn Thành, Lý Hải, Bùi Thạc Chuyên, Nguyễn Quang Dũng,...  cũng khai thác sâu sắc những giá trị văn hóa truyền thống. Nhiều phim đạt doanh thu cao, vượt cả các phim bom tấn ngoại như: Bố già (400 tỷ), Nhà bà Nữ (500 tỷ), Lật mặt (700 tỷ), Thỏ (gần 500 tỷ)...
Trong lĩnh vực thiết kế sáng tạo, thời trang và mỹ thuật đương đại, nhiều nhà thiết kế đang khai thác thành công họa tiết truyền thống, hoa văn dân gian, chất liệu thủ công và biểu tượng văn hóa Việt Nam để tạo ra các sản phẩm mới. Áo dài, thổ cẩm, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống hay các biểu tượng văn hóa cung đình Huế ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong các bộ sưu tập thời trang, sản phẩm thiết kế đồ họa và nghệ thuật đương đại.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, nhiều bảo tàng, khu di tích đã triển khai tham quan ảo, ứng dụng công nghệ 3D, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) để lan tỏa rộng rãi di sản đến công chúng trong nước và quốc tế. Đây là hướng đi quan trọng nhằm kết hợp bảo tồn với phát huy giá trị di sản trong thời đại số.

Các yếu tố văn hóa dân tộc được khai thác mạnh mẽ trong chương trình  Ký ức Hội An và chương trình của Phương Mỹ Chi. Ảnh: Nguyễn Tú (Tạp chí Du lịch)

Những hạn chế, tồn tại cần khắc phục
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, việc khai thác nguồn lực di sản văn hóa phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế.
Trước hết, nhiều nguồn tài nguyên văn hóa chưa được nhận diện đầy đủ và chưa được chuyển hóa thành sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao. Không ít địa phương sở hữu hệ thống di sản phong phú nhưng vẫn khai thác chủ yếu theo hướng tham quan đơn thuần, thiếu các sản phẩm sáng tạo có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Tình trạng thương mại hóa quá mức hoặc khai thác thiếu kiểm soát ở một số nơi đang làm suy giảm tính xác thực và tính toàn vẹn của di sản. Một số lễ hội, làng nghề hay không gian văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ bị biến đổi vì mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn.
Nguồn nhân lực sáng tạo còn hạn chế, việc kết nối giữa các nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ nhân, doanh nghiệp sáng tạo và nhà đầu tư chưa thật sự chặt chẽ. Nhiều ý tưởng khai thác di sản còn mang tính tự phát, thiếu chiến lược dài hạn và chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, hạ tầng số, cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách đầu tư và các mô hình hợp tác công - tư trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.

Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) là điểm đến mà du khách có thể vừa tham quan, vừa trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo.                 Ảnh: Kinh tế Môi trường


Phương hướng phát huy nguồn lực di sản cho phát triển bền vững
Trước hết, cần thay đổi nhận thức, xem di sản không chỉ là đối tượng bảo tồn mà còn là nguồn lực phát triển. Việc bảo tồn và khai thác phải được thực hiện đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa giá trị văn hóa và giá trị kinh tế.
Tiếp đó, cần khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng sáng tạo và các nghệ sĩ trong việc phát triển sản phẩm văn hóa dựa trên chất liệu di sản. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo môi trường pháp lý, hỗ trợ chính sách và đầu tư cho những lĩnh vực nền tảng.
Ngoài ra, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có khả năng kết hợp giữa hiểu biết văn hóa truyền thống với tư duy sáng tạo và công nghệ hiện đại. Đây chính là lực lượng nòng cốt để chuyển hóa nguồn vốn văn hóa thành các sản phẩm và dịch vụ có giá trị kinh tế cao.

Cuối cùng, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản; xây dựng cơ sở dữ liệu số, phát triển bảo tàng số, triển lãm ảo và các sản phẩm văn hóa số nhằm mở rộng khả năng tiếp cận công chúng trong nước và quốc tế.
Di sản văn hóa là tài sản vô giá được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử dân tộc. Trong thời đại kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số, nguồn tài nguyên ấy không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn có thể trở thành động lực quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Khai thác hiệu quả nguồn lực di sản chính là con đường để biến vốn văn hóa thành nguồn lực phát triển bền vững trong thế kỷ XXI./.

GS.TS Từ Thị Loan
Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long; 
Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia; Ủy viên BCH Hội DSVH Việt Nam