1. Không chỉ người Việt, các dân tộc trên thế giới làm quen với ngựa, thuần hóa ngựa cũng rất muộn, vào khoảng 4.200 năm cách đây tại vùng thảo nguyên Pontic-Caspian, thuộc khu vực hạ lưu sông Volga và sông Don (nay là lãnh thổ Nga). Từ khu vực này, loài ngựa được thuần hóa đã nhanh chóng lan rộng khắp lục địa Á - Âu chỉ trong vòng vài thế kỷ. Ngựa du nhập vào Đông Nam Á chủ yếu qua ba con đường, giao lưu với các trung tâm thuần hóa ngựa lớn ở Trung Á và Đông Á: Con đường hành lang Tây Tạng-Vân Nam, con đường biển đến vùng Indonesia (cuộc xâm lược Java của quân Nguyên Mông vào năm 1293 đã chở ngựa trên chiến thuyền), Philippines và con đường thương nhân Ả Rập và Ấn Độ cũng đưa ngựa Ả Rập và ngựa Ba Tư đến các cảng ven biển Đông Nam Á bằng tàu thuyền cung cấp cho các tầng lớp quý tộc bản địa.
Tượng ngựa trong chùa Phật Tích (niên đại năm 1057)
Ngựa là con vật mang nhiều phẩm chất “trời cho” quý giá như sức mạnh, sự nhanh nhẹn, khả năng di chuyển đường dài và nhanh hơn bộ binh nhiều lần, phục vụ nông nghiệp và chiến tranh rất lợi hại như kéo xe, kéo pháo, vận tải nặng. Ngựa có thể tạo ra những cuộc tấn công bất ngờ, bao vây, truy kích. Đặc biệt, ngựa có thể hoạt động tốt ở thảo nguyên, sa mạc, núi rừng. Sự thuần hóa ngựa dẫu muộn mằn nhưng được coi là một bước ngoặt vĩ đại trong sự tiến hóa của loài người. Vó ngựa đã giúp đội quân Nguyên Mông chinh phục được cả dải đất từ Á sang Âu.
Trước đây, nhiều nhà khoa học cho rằng ngựa là động vật ngoại lai tràn xuống vùng Đông Nam Á ở một thời kỳ khá muộn, theo vó chân của quân Nguyên Mông đến đảo Java và vùng đất Chăm Pa cũng vào khoảng thế kỷ XII-XIII. Tuy nhiên, với những tài liệu thư tịch cổ và khảo cổ học thì có thể ngựa đã xuất hiện ở Việt Nam từ sớm hơn 1.000 năm so với các nhận định trên.
2. Đại Việt sử ký toàn thư chép về cảnh tượng các nhà sư Ấn Độ đi truyền giáo ở vùng Luy Lâu (Bắc Ninh) vào năm 207, “Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ (các nhà sư Ấn Độ) đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người” (1). Điều này chứng tỏ ngựa đã có mặt ở đây từ đầu thế kỷ III. Tư liệu này cũng khẳng định được chính các nhà sư Ấn Độ đã theo con đường biển để vào Luy Lâu, lập nên một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở Đông Á, cũng là nằm trên con đường giao lưu văn hóa, thương mại truyền thống từ Ấn Độ qua ven Biển Đông đến Hoa Nam (Trung Quốc), cũng là con đường đồ trang sức, thủy tinh, khuyên tai Sa Huỳnh, trống đồng Đông Sơn và là con đường truyền đạo Phật. Các nhà sư Ấn Độ đến Luy Lâu để truyền đạo Phật, ban đầu đi cùng với tầng lớp thương nhân, ngựa và cả xe ngựa. Họ thành lập một nơi dịch sách Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc gồm 15 bộ như: một số kinh Đại thừa và Agama bao gồm kinh Bốn mươi hai chương, Anapanasati, Vessantara-jataka, Milinda-panha… Buổi đầu, Luy Lâu đã dựng được 20 Bảo tháp Phật, đào tạo hơn 500 vị tăng. Có thể nói, Luy Lâu là bàn đạp cho Phật giáo truyền vào Lạc Dương, Bành Thành chứ không phải ngược lại Phật giáo buổi đầu là từ Trung Quốc vào Việt Nam như nhiều học giả trước đây vẫn quan niệm.
Bên cạnh chứng cứ thư tịch nói trên, ngựa có mặt ở vùng Bắc Bộ nước ta sớm nhất là tượng các con ngựa được chôn trong các ngôi mộ gạch thời Đông Hán, một trong những ngôi mộ gạch này tìm được ngay khu di tích Làng Cả nổi tiếng. Đây là một trung tâm văn hóa Đông Sơn thời Hùng Vương, lại cũng là trung tâm của một trị sở thời Hán. Nhiều ngôi mộ gạch tìm thấy ở đây có chôn theo ngựa đồng để tùy táng. Có khả năng chủ nhân ngôi mộ là người Việt làm quan trong thời Hán nên có được cái văn hóa ít nhiều ảnh hưởng Hán. Những con ngựa bằng đồng là bằng chứng của việc giao lưu văn hóa Việt Hán như những đồ đồng có nét giao lưu như vậy: chậu-trống có hình hoa văn hình ngôi sao nhiều cánh, thân chậu có hình chim Lạc tung cánh bay nhưng lòng chậu lại có hoa văn “song ngư” đặc trưng của văn hóa Hán.
Quan hầu dắt ngựa ở bên trục Thần đạo trong lăng Dinh Hương
3. Câu hỏi được đặt ra là liệu trong nền văn hóa Đông Sơn đã tìm thấy dấu tích của ngựa chưa?
Đây là câu hỏi chưa có câu trả lời chính xác. Trong bối cảnh nền văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ, nhưng hầu như không tìm thấy một dấu tích xương ngựa trong các di tích, cũng chưa thấy một chiếc trống đồng nào có hình ảnh của con ngựa mà hoa văn quan trọng trên trống đồng lại là nhóm động vật quen thuộc gồm chim Lạc xòe cánh bay, bò có u trong cảnh lễ hội hiến tế, kể cả nhóm người đội mũ lông chim hóa trang trong lễ hội… Có thể, khi đó, người Việt cổ chưa quen với… ngựa hoặc số lượng ngựa còn ít, chưa có tác dụng nhiều trong các cuộc chiến vùng sông nước đánh nhau bằng vũ khí cận chiến và cung tên quen thuộc với chiến binh Việt cổ.
Tuy nhiên, có những truyền thuyết kể lại vào thời Hùng Vương thứ 6, Thánh Gióng đã dùng ngựa sắt đánh giặc Ân, rồi đoạn cuối của thiên tình sử Mỵ Châu-Trọng Thủy, “Trái tim lầm chỗ để trên đầu/Nỏ thần vô ý trao tay giặc/Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (thơ Tố Hữu), Mỵ Châu phải leo lên ngựa của An Dương Vương để chạy giặc về phương Nam. Như vậy, vào thời dựng nước, văn hóa Đông Sơn có thể người Việt cổ đã biết đến sự tồn tại của… ngựa, nhưng cần có các bằng chứng khoa học thuyết phục hơn nữa. Dẫu sao, trong thời dựng nước, ngựa chưa thâm nhập sâu vào văn hóa và tâm thức của người Việt như nhiều loài động vật khác.
Tranh dân gian Đông Hồ: Mã đáo thành công
4. Diện mạo đầu tiên của ngựa trong kho tàng di sản văn hóa Việt là tượng ngựa đá có mặt trong chùa Phật Tích. Đây là cặp ngựa trong 5 cặp động vật được bày từ thời Lý tới nay trong sân chùa. Ngoài ngựa còn 4 cặp các động vật khác: sư tử, voi, tê giác, trâu. Tượng ngựa và các động vật đều được làm bằng đá sa thạch (đá cát) quen thuộc của các nghệ nhân Chăm. Có thể ở vùng Kinh Bắc xưa đã có tốp thợ Chăm chế tác đá làm ra các sản phẩm như tượng động vật, chân bệ tượng A Di Đà chạm rồng thời Lý ở chùa Phật Tích, cột đá chạm rồng chùa Dạm. Nhóm thợ Chăm này đã theo chân Vua Lý Thái Tông ra đất Bắc sau cuộc chiến với Chiêm Thành năm 1044.
Vào đầu thời quân chủ độc lập, hình ảnh của ngựa đã thấp thoáng được ghi trong thư tịch. Ví dụ, năm đầu tiên Hoàng đế Lê Đại Hành lên ngôi (năm 980), trong bức thư xin cầu phong sang nước Tống có đoạn nhắc đến ngựa: “Chưa khó nhọc ngựa đổ mồ hôi, đã đau buồn sương tan buổi sớm”. Vào năm 983, Lê Đại Hành lại thân chinh đi đánh Chiêm Thành, cũng có đoạn nói đến ngựa “qua núi Đồng Cổ, Thanh Hóa, đến sông Bà Hòa, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt”.
5. Thời Lý thực sự là bước ngoặt số phận của con ngựa đối với người Việt. Ngựa đã được “thần” hóa. Vua Lý Thái Tổ có con ngựa trắng, phàm khi Vua sắp đi thì nó tất hí lên trước. Vua đặt cho tên là “Bạch Long thần mã”. Vào năm 1012, năm ấy người Man (tức một số tộc người ở vùng biên giới nước Đại Lý) sang quá cột đồng, đến bến Kim Hoa và châu Vị Long (huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang) để buôn bán. Vua sai người bắt được người Man và hơn 1 vạn con ngựa. Hai năm sau, năm 1014, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa. Châu mục châu Bình Lâm (huyện Lâm Bình, Tuyên Quang) là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết.
Như vậy, số lượng ngựa mà Lý Thái Tổ bắt được qua việc đánh quân Man ở vùng nước Đại Lý đã lên đến hàng vạn con. Bên cạnh việc củng cố vùng biên giới Đại Việt-Đại Lý, thì “chiến lợi phẩm” chính là đàn ngựa chiến. Với số lượng đàn ngựa chiến từ vùng Vân Nam, nhà Lý đã thành lập một đội quân hùng mạnh, được gọi là binh mã lợi hại. Từ chỗ hầu như ngựa là con vật hiếm hoi, thì trong tay nhà Lý đã có hàng vạn con. Ngựa trở thành đội quân chủ lực của nhà Lý. Vào thời Lý Anh Tông, năm 1170, “Vua tập bắn và cưỡi ngựa ở phía Nam thành Đại La, đặt tên là Xạ Đình, sai các quan võ hằng ngày luyện tập phép công chiến phá trận”(2).
Ngựa không những tham gia vào đội quân kỵ binh lần đầu tiên được thành lập dưới triều Lý, các chiến binh cưỡi ngựa bắn cung giỏi, mà còn chính thức bước chân vào thế giới tâm thức, tâm linh, mỹ thuật của xã hội Việt. Cũng như nhiều vùng đất láng giềng, ngựa làm quen với người Việt khá muộn, chính thức vào thời Lý với số lượng bùng nổ hàng vạn con, đã là một bước ngoặt vĩ đại.
Tranh thờ hai Cậu quận cưỡi ngựa đỏ và ngựa vàng
6. Trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam, con ngựa đã được coi là tính đoàn kết cộng đồng “một con ngựa đau, cả tầu bỏ cỏ”, ngựa được coi là điềm may mắn “Mã đáo thành công”, chỉ sự cao sang quyền quý “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Ngựa còn gắn với tình yêu đôi lứa “Đường dài ngựa chạy biệt tăm, người thương có nghĩa trăm năm cũng về”, “Có chồng như ngựa có cương, đắng cay cũng chịu, vui thương cũng nhờ”.
Hình ảnh con ngựa còn đọng lại trong nền mỹ thuật của người Việt. Có thể do hình dáng của ngựa khá đẹp, nhất là khi ngựa đang phi nước đại, vì vậy mà người nghệ sĩ Việt thể hiện vẻ đẹp qua tranh dân gian, chạm khắc gỗ trong phù điêu đình làng, điêu khắc tượng ngựa đá trong các lăng mộ…
Bức tranh Tiến sĩ xuất thân và tạo sĩ hiển hồi đã miêu tả sinh động cảnh Tiến sĩ về làng được đón rước linh đình, có cảnh “vinh quy bái Tổ”, ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau. Thời xưa, mỗi khi đỗ Tiến sĩ, Nhà vua ban cho ngựa đẹp đưa các nhân tài của đất nước từ điện Kính Thiên về tận quê nhà.
Bức tranh Đám cưới chuột được vẽ cùng một mô típ với nhiều bức tranh Vinh quy bái Tổ, có lẽ người nghệ sĩ có ẩn dụ nào đó, đám cưới cũng có ngựa anh đi trước, kiệu nàng theo sau, có vai trò của con ngựa làm sang cả đám rước, rồi cả một dàn kèn, rước lồng đèn, rước biểu, nhưng không thiếu được của biếu là cá, chim, cho con mèo đang chặn giữa đường làng. Tính hài hước của tranh khá thâm thúy: Cái “phép vua cũng thua lệ làng”, vẫn phải có của hối lộ thì chức sắc của làng mới cho đi qua…
Bức tranh Cậu quận (Đồng cậu), là cặp bức tranh được thờ trong Đạo Mẫu, trong điện thờ Đệ Tam công chúa thủy cung (Mẫu thoải).
Trong nhóm tranh dân gian Đông Hồ, có những tranh miêu tả các vị anh hùng dân tộc với dáng vẻ hùng dũng cưỡi những con ngựa đẹp. Đó là tranh về Hưng Đạo Vương, về Hoàng đế Quang Trung.
Bên cạnh tranh dân gian, các nghệ sĩ nhân dân còn tạo được các tượng ngựa mang tính chất tâm linh, canh gác cho chủ nhân mộ thời Lê Trung Hưng, ví dụ như tượng trong lăng Dinh Hương ở vùng Hiệp Hòa (Bắc Giang cũ).
Sau thời Lý, hình tượng ngựa đã thực sự bùng nổ trong mọi ngõ ngách của đời sống tâm linh và mỹ thuật của người Việt. Đó thực sự là một vốn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá mà chúng ta cần khai thác tốt hơn trong sự nghiệp “công nghiệp văn hóa” trong đó có du lịch. Du khách trong và ngoài nước sẽ thấy được bản sắc văn hóa của những con ngựa Việt khác với những con ngựa trên thế giới. Sau hơn nghìn năm, từ thời Lý đến nay, người Việt đã thực sự coi ngựa là một trong những con vật mang nhiều đặc tính gần gũi với họ: nhanh nhẹn, thông minh, cần cù, chịu đựng gian khổ, giỏi giang trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm.
Bài và ảnh: GS.TS Trịnh Sinh