Lễ "Khô già già" của người Hà Nhì đen ở Nậm Pung

Vào tháng 6 âm lịch hằng năm, khi lúa, ngô trên đồng trên nương rẫy xanh lá, cây cối đâm hoa kết trái, là lúc người Hà Nhì đen ở xã Nậm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (cũ) tổ chức lễ “Khô già già”. Lễ “Khô già già” hay còn gọi là “Khù già già” có nghĩa là “bội thu”. Đây là lễ hội cầu mùa và cũng là lễ hội lớn nhất trong năm của người Hà Nhì đen nơi đây. Lễ “Khô già già” được tổ chức trong ba ngày, bắt đầu vào ngày Thìn đầu tiên của tháng 6 âm lịch cho đến ngày Ngọ.

Các hộ gia đình trong bản cử đại diện là nam giới đi cắt cỏ gianh để lợp lán thờ chung của cộng đồng

Để chuẩn bị cho lễ “Khô già già” Trưởng bản cùng thầy cúng và đại diện các gia đình sẽ họp bàn thống nhất thời gian, địa điểm, đóng góp mua sắm lễ vật, và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong cộng đồng. Trong đó, hai ông Khư dù (người tìm trâu) là người chịu trách nhiệm mua trâu làm vật dâng tế thần linh. Bên cạnh công việc chuẩn bị lễ “Khô già già”, các gia đình tiến hành vệ sinh thôn bản, tập luyện các tiết mục dân ca, dân vũ, các trò chơi truyền thống của dân tộc để tham gia lễ hội.

 Phần nghi lễ: 

Ngày Thìn (ngày thứ nhất ): Vào sáng sớm, các hộ gia đình trong bản cử đại diện là nam giới đi cắt cỏ gianh để lợp lán thờ chung của cộng đồng. Lán thờ có vai trò rất quan trọng đối với cộng đồng người Hà Nhì đen, đây là nơi đón các vị thần về dự và chứng kiến lễ hội, đồng thời còn là nơi thờ cúng và là địa điểm tổ chức bữa ăn chung gắn kết cộng đồng.

Sau khi tập kết đủ cỏ gianh, họ cùng nhau cùng sửa, lợp lại lán thờ. Theo quan niệm của người Hà Nhì đen, cái gì cũng phải có nguồn cội, vì vậy mà khi lợp nhà hay lợp lán thờ chung của cộng đồng, gốc cỏ gianh bao giờ cũng phải quay xuống dưới, ngọn quay lên trên. 

Thanh niên được phân công dùng dây rừng buộc cố định cột đu dây (A gừ) tại khu nhà lán

Ngày Tỵ (ngày thứ hai ): Cả cộng đồng thực hiện nghi lễ giết trâu tế thần linh và để thờ cúng tổ tiên tại mỗi gia đình. Khoảng 7h sáng hai ông Khư dù dẫn đầu đoàn đại diện các hộ gia đình dắt trâu đến buộc vào cột đu “A quý” trước sân lán thờ. Trâu tế thần là con trâu đực có màu đen, béo tốt, mạnh khoẻ. Người Hà Nhì đen quan niệm trâu là con vật thiêng, là biểu tượng cho sức mạnh, no ấm, do đó trong các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp, họ thường dùng trâu làm vật hiến tế. 

Để bắt đầu nghi lễ hiến trâu, một ông Khư dù lấy nắm cỏ gianh buộc quanh mõm trâu, với mục đích để cho trâu khỏi kêu, theo quan niệm của họ, nếu để trâu kêu to năm đó sẽ bị mất mùa, lúa và hoa màu sẽ bị sâu, bọ phá hoại. 

Chủ nhà thực hiện nghi thức cúng tổ tiên tại bàn thờ gia đình theo đúng phong tục truyền thống

Tại mỗi gia đình lễ vật cúng tổ tiên thường là 1 bát rượu nếp ủ; 1 bát nước chè gừng; 1 bát thịt trâu; 1 bát bánh dày; 1 đôi đũa được đặt trên bàn thờ. Khi cúng tổ tiên, chủ nhà sẽ quỳ lạy 3 lần trước bàn thờ, rồi bắt đầu khấn. Lời cầu khấn là lời tâm niệm, cảm ơn tổ tiên đã phù hộ cho gia đình trong năm qua luôn được khoẻ mạnh, cây trồng, vật nuôi đều phát triển. 

 Trong những ngày diễn ra lễ “Khô già già”mỗi ngày các gia đình trong bản đều cúng 2 lần vào bữa trưa và bữa tối. Ngoài ra, họ còn có tục cúng thờ người hầu dắt ngựa cho tổ tiên đặt bên cạnh cửa ra vào ngôi nhà.

Vợ của chủ nhà thực hiện nghi thức cúng mời người hầu dắt ngựa cho tổ tiên.

* Ngày Ngọ (ngày thứ ba ): Đây là ngày thực hiện nghi lễ chính tại lán thờ chung của cộng đồng. Khoảng 8h sáng thanh niên trai tráng xin phép thần rừng chặt cây về làm đu. Đu gồm hai loại: Đu quay đặt ở dưới đất và đu dây buộc cao trên cây.  Cột đu quay “A quý” được làm bằng 2 đoạn thân gỗ chắc và thẳng. Đoạn dài để làm thân đu quay, đoạn ngắn làm cột đu được chôn xuống đất để giữ thăng bằng cho thân đu quay. Khi cột đu dựng xong, thầy cúng nhặt mảnh vỏ của thân đu cài lên mái của lán thờ với mục đích làm dấu, khi nào thầy cúng làm lễ mời thần linh về vui chơi trước thì mọi người mới được chơi đu.

Đu dây “A gừ”, gồm hai chân cột, một chân được cố định bằng một cây gỗ mọc tự nhiên bên cạnh lán thờ, một bên là hai cây gỗ dài chôn xuống đất, đoạn trên đỉnh buộc chéo nhau để xỏ cây gỗ làm xà ngang  từ đỉnh cột đu từ bên này sang bên kia để buộc hai đây đu.  Đoạn dây đu rủ xuống cách mặt đất khoảng 50cm họ buộc vào hai đầu đoạn thân gỗ tròn dài khoảng 1,5 m để làm chỗ đứng hoặc ngồi khi chơi đu. Sau khi làm xong, đu dây được cài cành lá làm dấu và treo lên thân cây, chờ thầy làm lễ cúng mời thần rồi mọi người mới được chơi. 

Khoảng 4 giờ chiều, mỗi gia đình chuẩn bị 1 mâm lễ gồm các món ăn chủ yếu chế biến từ thịt trâu để tế thần. Các món tế thần thường là số chẵn từ 8 đến 12 món, họ quan niệm cái gì cũng có đôi, vì vậy trong các nghi lễ họ thường dùng lễ vật có số chẵn.

Mâm lễ của các gia đình được đặt thành hàng ngang trước cột đu (A quý) chuẩn bị cho nghi thức tế thần.

Khi rước mâm lễ tế thần đến khu lán thờ chung của cộng đồng họ đi thành hàng, đi đầu đoàn là thầy cúng chính, tiếp đến thầy cúng phụ. Đến nơi, các mâm lễ được đặt thành hàng trước cột đu “A quý”, thầy chính đứng bên phải, thầy phụ đứng bên trái thực hiện nghi lễ cúng tế. Hai thầy khom người về phía trước, chụm hai bàn tay vào nhau đưa từ phía dưới lên trên 3 lần. Sau đó quỳ hai đầu gối xuống đất, úp lòng bàn tay xuống lạy 3 lạy, miệng lầm rầm khấn với ý niệm mời các thần về dự hội và thụ hưởng lễ vật do bà con dân bản dâng cúng, mong các thần che chở, phù hộ cho bản làng được yên bình, được mạnh khỏe, cây trồng, vật nuôi không bệnh tật, ốm đau 

Sau đó lần lượt đại diện các hộ gia đình tiến hành lễ tế thần, họ cầu mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu và không quên cầu các vị thần che chở cho gia đình, cộng đồng thôn bản được mạnh khoẻ, bình an hạnh phúc. Lúc này, việc tế thần đã thực hiện xong, mọi người cùng bê mâm cúng vào trong lán, các mâm  lễ của các gia đình được xếp lần lượt từ trong ra ngoài, tính theo độ tuổi từ già đến trẻ. 

Phần vui hội và văn hoá ẩm thực:

Sau khi kết thúc phần nghi lễ, hai ông thầy cúng sẽ tiến hành làm lễ để quay đu. Đầu tiên ông thầy chính sẽ cầm một mảnh gỗ được đẽo ra từ thân đu để làm lễ quét ma ra khỏi thân đu. Tiếp đến mỗi thầy sẽ ngồi một đầu cần đu quay, để đu trước lấy may cho người chơi gồm 9 vòng  ngược theo chiều kim đồng hồ, họ vừa quay vừa hô vang nhằm đuổi hết ma xấu, ma ác làm hại dân bản.

Tiếp theo hai thầy làm lễ ở đu dây “A gừ”, rồi cử một thanh niên nam đứng lên bàn đu và đu liên tiếp 9 lần để đuổi mọi điều xấu, mọi rủi ro ra khỏi đu dây và cầu mong thần đu dây sẽ phù hộ cho dân bản. Sau đó mọi người mới được tham gia chơi đu dây, lúc này bà con dân bản tổ chức các cuộc vui chơi tại cột đu “A quý” và “A gừ”, đối tượng tham gia vui chơi đa dạng về lứa tuổi và giới tính. 

Ngoài tham gia trò chơi đu quay (A quý), trẻ em còn tham gia trò chơi đu dây (A gừ)  truyền thống

Đến sẩm tối, sau nghi lễ và các trò chơi kết thúc là bữa ăn cộng đồng tại lán thờ. Thầy cúng chính sẽ là người làm lý (phát động) đầu tiên, thực hiện quỳ lạy những người hơn tuổi mình, mỗi người một lạy. Sau đó về mâm của mình, nâng chén rượu mời mọi người và cùng chúc tụng nhau. 

Tiếp đến là thầy phụ, rồi đến đại diện các gia đình, mỗi người được làm lý một lần. Lúc này các thầy cúng và đại diện các gia đình trong bản ăn uống chúc tụng nhau với những lời chúc tốt đẹp nhất, cùng nhau bỏ qua những mâu thuẫn trước đây, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, động viên mọi người giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Việc ăn uống chỉ kết thúc khi đồ ăn trên mâm đã hết, rượu trong chai đã cạn, trên khuôn mặt của những người đến tham dự buổi lễ đều ánh lên niềm vui phấn khởi với tinh thần cùng nhau đoàn kết xây dựng bản làng ngày càng ấm no, giàu đẹp.

ThS Lương Việt Anh 

Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam