Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026): "Lính mũ sắt Hà Nội" và trận chiến khốc liệt ở Chư Tan Kra

Chư Tan Kra trước đây thuộc thôn 3, xã Ya Xỉêr, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum (nay là thôn Thanh Xuân, xã Yaly tỉnh Quảng Ngãi). Đây là một dãy núi hình vòng cung hướng Nam - Bắc ôm một phần thung lũng Kleng, cách huyện lỵ Sa ThẦy về phía Tây Nam khoảng 20 km theo đường chim bay, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 40 km. Phía Bắc giáp với núi Chư Mom Ray. Phía Nam giáp với núi Chư Ifa Kray, phía Tây cách núi Chư Đô 4 km, phía Đông là rừng già. Chư Tan Kra có 7 đỉnh, đỉnh chính giữa cao 1.198m. Từ sườn Đông của Chư Tan Kra có thể quan sát được sân bay dã chiến Kleng (dùng để tiếp vận, yểm trợ hỏa lực và bảo vệ phía Đông thị xã Kon Tum) và Căn cứ Kleng (nơi đào tạo biệt kích, thám báo của Quân lực Việt Nam Cộng hòa).

Chiếc mũ sắt tìm thấy trong một chuyến tìm kiếm tháng 11-2017. Ảnh M.N

1. Nhằm tăng cường lực lượng cho Tây Nguyên thực hiện nhiệm vụ trong Mậu Thân 1968, Trung đoàn 209 thuộc Sư đoàn 312 được điều động vào Kon Tum. Đây là trung đoàn được thành lập từ năm 1947 với tên gọi là Trung đoàn Sông Lô. Trung đoàn đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ góp phần làm nên chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung đoàn 209 là một trung đoàn bộ binh tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam, được tuyển chọn đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ đều là người gốc Hà Nội, có sức khỏe tốt và phẩm chất chính trị cao (ít nhất là đoàn viên trở lên). Trung đoàn được huấn luyện về thể lực, kỹ chiến thuật đặc biệt, được trang bị các trang thiết bị và khí tài hiện đại như súng phun lửa, B40, B41… Toàn Trung đoàn được trang bị mũ sắt. Vì vậy trung đoàn được mệnh danh là “Trung đoàn Mũ sắt Hà Nội”.

Ngày 5 tháng 2 năm 1968, Trung đoàn làm lễ xuất quân. Sau gần nửa tháng hành quân liên tục bằng xe ô tô, giữa tháng 2 năm 1968, Trung đoàn đã có mặt tại bờ Tây sông Sa Thầy, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Đây là địa bàn chiến lược quan trọng với chiến trường ba nước Đông Dương. Nằm trong đội hình Mặt trận Tây Nguyên, Trung đoàn 209 được biên chế vào Sư đoàn 1 (Sư đoàn chủ lực đầu tiên ở Mặt trận Tây Nguyên), thay thế cho Trung đoàn 320 đi nhận nhiệm vụ mới. Lúc này Trung đoàn mang phiên hiệu là Trung đoàn 320 (mật danh Công trường 320). 

2. Nhiệm vụ đầu tiên Trung đoàn được giao ở Tây Nguyên là đánh căn cứ huấn luyện biệt kích Kleng (còn gọi là căn cứ Lệ Khánh) – mật danh M1. Tuy nhiên, quá trình triển khai lực lượng vào sát Kleng, công tác trinh sát không giữ được yếu tố bí mật nên Trung đoàn buộc phải rút quân ra để tránh thương vong. Ngày 21 tháng 3 năm 1968, đội hình Trung đoàn gồm Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9 tập kết ở khu vực Chư Tan Kra và Chư Tan An, cách Kleng khoảng 10 km (Tiểu đoàn 8 bị địch đánh phá ngăn chặn nên vào muộn). Đánh hơi thấy “mùi Việt cộng”, quân địch lập tức dùng máy bay ném bom dọn bãi rồi đổ quân lập căn cứ hỏa lực FSB14 (Mật danh M2) ngay giữa đội hình tập kết của Trung đoàn tại mỏm 995 dãy Chư Tan Kra.

Theo trinh sát nắm được, lực lượng địch đóng tại M2 khoảng một tiểu đoàn tăng cường gồm 3 đại đội bộ binh, 1 đại đội pháo hỗn hợp 105 mm và cối 81mm, lực lượng trinh sát, công binh tương đương 1 đại đội, chưa kể 2 đại đội bộ binh thường xuyên tuần tra cả ngày lẫn đêm trong rừng bên ngoài quanh căn cứ và 4 đại đội pháo ở sân bay Kleng cùng không quân yểm trợ. Trước tình thế mới nảy sinh, Trung đoàn phải bỏ mục tiêu đánh Kleng chuyển sang đánh địch ở Điểm cao 995 trên dãy Chư Tan Kra bởi căn cứ này án ngữ con đường từ Kon Tum đi ngã ba biên giới, nó lại nằm giữa đội hình tập kết của ta. Không đánh được căn cứ này, Trung đoàn cũng không thể đánh Kleng, thậm chí không đánh sớm, địch xây dựng căn cứ ngày càng kiên cố, việc thực hiện nhiệm vụ càng khó khăn hơn, tổn thất sẽ lớn hơn.

Với quyết tâm tiêu diệt bằng được căn cứ M2, Trung đoàn giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7 là mũi chủ công đánh hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 9 (thiếu 1 đại đội) đánh hướng thứ yếu. Trung đội đặc công của Mặt trận Tây Nguyên phối hợp luồn sâu đánh mở cửa và tạo sức ép từ bên trong.

Trận đánh diễn ra vào đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1968. Theo phương án tác chiến, sau khi đặc công mở được cửa mở, đơn vị sẽ phát lệnh tiến công. Nhưng khoảng 1 giờ sáng ngày 26 tháng 3 năm 1968, lực lượng biệt kích vòng ngoài của đối phương phát hiện bộ đội ta di chuyển vào căn cứ M2. Chúng tổ chức phục kích, lực lượng đặc công của ta bị thương vong nặng nên không thực hiện được kế hoạch như đã định. Các chiến sĩ của các đơn vị thuộc Tiểu đoàn 7 nằm phục trên các sườn đồi chờ tín hiệu phát hỏa nhưng chỉ có những phát súng bắn cầm canh của đối phương.

Đến hơn 3 giờ sáng, không thể chờ hiệu lệnh tấn công từ Trung đội đặc công, điện thoại liên lạc với Trung đoàn không được, chỉ huy Tiểu đoàn 7 quyết định phát lệnh nổ súng. Sau hai quả pháo hiệu bắn lên không trung, bộ đội ta xung phong đánh chiếm mục tiêu. Sau khi chọc thủng lớp hàng rào dây thép gai ở vòng ngoài, các mũi cơ động của Đại đội 1, Đại đội 2 Tiểu đoàn 7 nhanh chóng phát triển vào trung tâm đánh phá các trận địa pháo và Sở chỉ huy căn cứ. Trước sức tiến công mãnh liệt của quân ta, quân địch lùi dần lên phía trên và gọi máy bay CH47 đưa quân đến ứng cứu. Từ trên máy bay, địch dùng súng máy đại liên bắn chặn quyết liệt tại khu vực cửa mở. Chư Tan Kra bỗng chốc trở thành một chảo lửa. 

Khoảng 4 giờ sáng, phía địch chịu nhiều thương vong, phải rút về trận địa pháo. Chúng hạ nòng pháo 105mm bắn trực tiếp về phía quân ta. Tiểu đoàn 7 phát triển tiến công đánh chiếm trận địa pháo. Đối phương phản kích chiếm lại, đồng thời chúng sử dụng lực lượng nằm rừng ngoài căn cứ tấn công sau lưng quân ta. Bộ đội ta bị quây trong căn cứ. Lực lượng dự bị của Tiểu đoàn được tung vào trận cũng không thể cứu vãn nổi tình thế. Đến 4 giờ 30, địch sử dụng B52 ném bom rải thảm quanh trận địa. Pháo từ căn cứ Kleng bắn cấp tập xuống khu vực lân cận yểm trợ cho máy bay trực thăng đổ quân. Cuộc giao tranh giữa ta và địch kéo dài tới 6 giờ sáng. Ta ngày càng gặp nhiều bất lợi do đạn dược cạn dần, bộ đội thương vong nhiều không còn sức chiến đấu. Nhận thức rõ điều này, Trung đoàn quyết định rút quân. Trận đánh kết thúc, đối phương thừa nhận “198 lính chết và bị thương, 135 lính Bắc Việt chết trong căn cứ và được chôn trong 3 mộ tập thể”(1).

Tờ “Lập công” của Lực lượng vũ trang giải phóng Tây Nguyên ra ngày 28 tháng 3 năm 1968 viết: “Đêm 25 rạng sáng ngày 26 tháng 3 năm 1968, K4 (mật danh Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 209) đã đánh một trận tập kích tốt, tiêu diệt gần hết một đại đội bộ binh, một đại đội pháo binh và Tiểu đoàn bộ Mỹ. Giặc Mỹ phải thừa nhận: Đây là một trận đánh rất táo bạo, phía Mỹ đã bị thiệt hại vừa”(2).

Sách “Lịch sử Trung đoàn 209 Sư đoàn 7” tổng hợp: “Trong trận tiến công tiêu diệt quân Mỹ ở cao điểm 995 (thuộc núi Chư Tan Kra), 204 lính Mỹ đã bị tiêu diệt, ta bị thương và hy sinh hơn 200 đồng chí. Trận đánh Mỹ đầu tiên tại cao điểm 995, Trung đoàn không dứt điểm nhưng là trận đánh mở màn của Trung đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên và Nam Bộ. Trận đánh đã thể hiện rõ ý chí kiên cường, tinh thần chiến đấu gan dạ không sợ hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209. Đó chính là truyền thống của một trung đoàn đã được xây dựng từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược”(3).

Nhà tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh khi đánh điểm cao 995 Chư Tan Kra.

3. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến trường khốc liệt ngày nào, giờ đã được phủ một màu xanh cà phê, cao su. Nhưng quá trình khảo sát, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ vẫn phát hiện dấu tích của công sự, hầm hào, lô cốt và cả hố bom mà đối phương đã ném xuống đây. 

Ghi nhận chiến công và sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209 tại Điểm cao 995 - Chư Tan Kra, năm 2013, UBND tỉnh Kon Tum đã quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh với tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ là 99.738,8m2. Hiện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đang xây dựng hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Cùng với đó, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội cũng nghiên cứu và đề xuất với UBND thành phố Hà Nội xây dựng Đài tưởng niệm các liệt sĩ Hà Nội hy sinh tại Chư Tan Kra và mặt trận phía Bắc Kon Tum. Với sự đồng thuận của UBND thành phố Hà Nội và UBND tỉnh Kon Tum, sau 2 năm xây dựng, ngày 18 tháng 7 năm 2012, Khu tưởng niệm được khánh thành gồm Nhà tưởng niệm, hai nhà bia trên đó khắc tên 475 liệt sĩ đã hy sinh ở Chư Tan Kra và Mặt trận phía Bắc Kon Tum, hai bức phù điêu tái hiện lòng quả cảm, sự chiến đấu, hy sinh của những người lính mũ sắt Hà Nội trong trận chiến khốc liệt tại Chư Tan Kra. 

Hằng năm vào dịp 26 tháng 3, chính quyền địa phương phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Lễ giỗ trận với nhiều hoạt động như cầu siêu, biểu diễn cồng chiêng và các hoạt động văn hóa khác. Đây thực sự trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ không chỉ ở riêng vùng đất Tây Nguyên mà trên cả nước.

-----------------

1. Phạm Kim Thanh: Nhớ những chuyến đi tìm đồng đội trên đỉnh Chư Tan Kra, Trang tin điện tử Bảo tàng Lịch sử quốc gia ngày 17 tháng 4 năm 2020;

2. Reds VN Net ngày 10 tháng 9 năm 2025: Chư Tan Kra 1968 - Cuộc tử chiến giữa lính mũ sắt Hà Nội và Anh Cả đỏ Mỹ (dẫn theo Thể thao và Văn hóa TTXVN);

3. Lịch sử Trung đoàn 209 Sư đoàn 7, Nhà xuất bản QĐND, Hà Nội 2004, tr 94, 95.

-----------------------------

Thiếu tướng, TS Nguyễn Xuân Năng

UV Thường vụ Hội DSVH Việt Nam; nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Top