Cùng theo Bác về nước, chứng kiến thời khắc thiêng liêng Bác đặt những bước chân đầu tiên về Tổ quốc yêu dấu lúc đó, đồng chí Lê Quảng Ba kể lại như sau: Lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh kết thúc vào khoảng giáp Tết âm lịch. Ngày 1-1 Tết Tân Tỵ 1941, Bác cùng một số đồng chí trong lớp huấn luyện đi chúc Tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Ngàn Tấy. Ngày hôm sau 28-1-1941 (tức 2-1 Tết), Bác về nước.
Vượt qua cột mốc biên giới 108 (nay là cột mốc 675), Bác cùng các đồng chí về đến xã Trường Hà, huyện Hà Quảng (cũ), tỉnh Cao Bằng. Khi đi trên đất Trung Quốc, đồng chí Lê Quảng Ba đi trước để quan sát tình hình, mọi người đi sau cũng nghe ngóng quan sát nên nói chuyện nhỏ bằng tiếng Quảng Đông. Khi qua con đường cột mốc, xuống đến dốc Pác Bó, về đến Tổ quốc mình mọi người mới nói chuyện thật rôm rả bằng tiếng Kinh. Đồng chí Lê Quảng Ba vẫn đi trước, đằng sau là đồng chí Phùng Chí Kiên. Đồng chí Kiên không kìm nén được niềm vui, đọc oang oang những chữ ghi trên cột mốc. Khi đồng chí Lê Quảng Ba quay lại thấy Bác chấm chấm khăn mặt lên mắt. Thật đúng với tâm trạng mà sau này Bác kể lại: “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”(3).
Cũng theo lời kể của đồng chí Lê Quảng Ba, lúc đầu đoàn dự kiến ở lại nhà ông Máy Lỳ ở xóm Cò Vần. Nhưng sau khi quan sát Bác nói, nếu ở đây ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình, mặt khác nhà ở đây trống trải, đoàn ở lại cũng không thuận lợi. Bác quyết định “sáu sán” (tức ở rừng). Ông Máy Lỳ biết có một cái hang, nơi mà hằng năm cứ đến tháng củ mật (giáp Tết) cả nhà ông thường mang theo con cái, đồ đạc vào hang ở để tránh phỉ, tránh cướp. Thế là ông dẫn cả đoàn đi xem hang. Hang không xa nhưng đi thì vất vả, chung quanh cây cối rậm rạp, ướt át, lại phải leo qua con đường giống như sống lưng con trạch. Đi tới đâu ông Máy Lỳ chặt các cành cây xòe chắn lối đi tới đó. Lúc trở ra các đồng chí định chặt bớt cây, mở rộng đường nhưng Bác không cho chặt.
Ông Máy Lỳ cho mượn ván, chiếu, mọi người vun lá làm nệm. Hang nhỏ chỉ ngủ được 5 người. Đồng chí Thế An phải ngủ trên nhà ông Máy Lỳ. Trong hang đồng chí Lê Quảng Ba nằm ngoài, rồi đến Bác, đồng chí Phùng Chí Kiên bị thương nhiều được Bác ưu tiên nằm giữa cho ấm, rồi đến đồng chí Đặng Văn Cáp, đồng chí Hoàng Văn Lộc. Tối đầu ở hang các đồng chí đốt lửa cho ấm và làm khô hang. Nhưng sau đó sợ lộ bí mật, Bác không cho đốt lửa vào buổi tối. Trong hang chỉ để một chiếc đèn bão loại vừa để thắp sáng. Ngủ ở trong hang các đồng chí sợ nhất là rắn rết, nên luôn mang trong người một ít diêm sinh, ngoài ra trong hang còn có vắt nhưng chúng không đáng sợ lắm.
Gắn với địa danh lịch sử hang Cốc Bó là núi Các Mác, suối Lênin do Bác đặt tên. Trước khi đặt tên, Bác có hỏi ý kiến mọi người về quả núi, con suối tên là gì, có truyền thuyết gì về chúng. Đồng chí Lê Quảng Ba cho biết ở địa phương có một bà cụ cho biết núi đó gọi là núi Đào. Sự tích của nó là có 7 cô tiên con gái Ngọc Hoàng đi chơi vườn đào về, thấy con suối trong các cô xuống tắm. Cô út có mang theo quả đào hái ở vườn. Mải tắm đến trưa đã đến giờ về chầu Ngọc Hoàng, cô út lên sau vội quá bỏ lại quả đào. Quả đào đó biến thành quả núi cạnh dòng suối. Nghe câu chuyện Bác nói: À ra thế, nơi đây xưa có tiên đến chơi. Xưa có tiên cô, bây giờ thì có các tiên cậu, tiên ông. Ông Các Mác là người muốn cho cả loài người thành tiên cho nên ta gọi núi này là núi Các Mác. Còn ông Lênin người đầu tiên muốn làm cho Liên Xô tiến lên chủ nghĩa xã hội, ta gọi suối này là suối Lênin để tưởng nhớ. Ai cũng hiểu đây là truyện cổ tích, không có thật, nhưng cách Bác chọn truyền thuyết để đặt tên rất có ý nghĩa.
Về cuộc sống, sinh hoạt của Bác khi mới trở về nước ở Cao Bằng, đồng chí Phạm Văn Đồng kể lại rằng, trước khi trở về Cao Bằng, Bác và các đồng chí ở bên kia biên giới: “Bấy giờ Bác có nhiều tiền, hai xếp giấy bạc như hai cuốn từ điển. Bác giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng giữ tiền. Đồng chí phải mặc một cái áo trong, với hai cái túi to để giữ tiền. Nghĩa là lúc đó Bác có nhiều tiền, nhưng bữa cơm hằng ngày vẫn là cháo bẹ, nói thật là không đủ no” (4). Có lúc Bác nói với đồng chí Lê Quảng Ba: Đường cách mạng còn dài, đoàn thể lại nghèo. Mình phải tằn tiện cho đoàn thể. Miếng ăn thì miễn sao còn sức hoạt động là được.
Từ Pác Bó “đại bản doanh” của cách mạng sau khi Bác về nước, Người hướng dẫn công tác tổ chức, tuyên truyền cách mạng, từ việc lớn đến việc nhỏ Bác đều quan tâm. Bác đặc biệt thương yêu và tận tình chỉ dẫn công việc cho các đồng chí cán bộ. Hồi đó Cao Bằng còn 90% dân số mù chữ và trong cán bộ cũng có nhiều đồng chí chưa biết chữ. Bác chủ trương: “Phong trào Việt Minh tới đâu, tổ chức học văn hóa ở đó. Người biết dạy người không biết, người biết nhiều dạy người biết ít”. Các đồng chí thực hiện chủ trương của Bác bắt đầu từ cơ quan. Trong học tập đồng chí Thế An gặp khó khăn lớn. Vì đồng chí học nhanh quên. Nên Bác đã nhận trách nhiệm dạy chữ cho đồng chí Thế An. Bác dạy theo cách của Bác, chỉ trong thời gian ngắn đồng chí Thế An đã biết đọc, biết viết. Sau đó để bảo đảm tờ báo Việt Nam độc lập hợp với trình độ nhân dân các dân tộc, Bác thường lấy trình độ đọc báo của đồng chí Thế An làm mức để duyệt các bài báo trước khi đưa in.
Trong số năm đồng chí cùng về với Bác, có hai đồng chí gần gũi với Bác từ khi ở nước ngoài, lại hy sinh sớm, Bác vô cùng thương xót. Đó là đồng chí Phùng Chí Kiên và đồng chí Hoàng Văn Lộc.
Từ năm 1940, đồng chí Phùng Chí Kiên đã tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Đồng chí đã nhiều lần đưa Bác đến các nơi như Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chỉ Thôn... thuộc tỉnh Vân Nam, thăm các cơ sở quần chúng cách mạng và khảo sát đường về Tổ quốc khi có đủ điều kiện. Đồng chí tham gia tổ chức và giảng dạy Lớp huấn luyện ở bản Nậm Quang và Ngàn Tấy, thôn Linh Quang, xã Thiện Bàn, huyện Tĩnh Tây, thuộc tỉnh Quảng Tây, giáp biên giới Trung Quốc-Việt Nam.
Ngày 28-1-1941, đồng chí Phùng Chí Kiên theo Bác về Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Ở đây, đồng chí hoạt động bên cạnh Bác và đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bảo vệ khu căn cứ. Đồng chí đã tích cực tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh miền xuôi... Ngày 21-8-1941 đồng chí đã anh dũng hy sinh trên đường đi công tác, mở lớp huấn luyện. Nghe tin đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, Bác lặng đi rất đau xót.
Đồng chí Hoàng Văn Lộc khi hoạt động ở Thái Lan đã được gặp Bác Hồ. Năm 1941 đồng chí được theo Bác về nước, phụ trách chăm sóc sức khỏe, nấu ăn cho Bác. Khi cuộc kháng chiến bùng nổ, Bác Hồ trở lại Tân Trào, đồng chí Lộc đang làm việc tại công binh xưởng, được gọi trở về cơ quan Phủ Chủ tịch làm nhiệm vụ cấp dưỡng nấu ăn cho cơ quan và Bác. Được Bác đặt tên là Đồng. Đồng chí biết nhiều loại rau rừng và có kinh nghiệm cải tiến món ăn. Ngày 3-5-1948 đồng chí Lộc qua đời do một cơn sốt rét ác tính. Bác rất thương xót.
Sau này tình cờ đi sưu tầm tài liệu về Bác, chúng tôi vô cùng xúc động khi được đọc bài Bác viết năm 1961, về cái Tết về nước 20 năm trước (năm 1941), có hình ảnh của đồng chí Lộc với những phẩm chất, cốt cách, chí khí của một người cách mạng vẫn vẹn nguyên trong tâm trí Bác: “ Ông Lộc là một người kỳ lạ. Quê ở Trung Bộ, trước kia ông ta là một tay buôn lậu, một khách giang hồ. Sau khi được giác ngộ cách mạng Lộc trở nên một người cực kỳ tốt. Giữ tiền bạc của đoàn thể, Lộc không bao giờ sai xuyển một xu, mà cũng không để cho ai lãng phí một xu. Việc gì khó khăn nguy hiểm, Lộc đều xung phong đi trước. Dạy bình dân học vụ, cũng được. Giúp anh em tập quân sự, cũng khá. Tính ít nói, siêng làm. Đối với anh em, Lộc rất tử tế, nhưng nếu ai làm sai nội quy một tý, Lộc gắt lên như Trương Phi, mắng ngay vào mặt, không nể chút nào. Phụ trách chăm nom sức khỏe Bác hôm nào Lộc cũng xoay cho kỳ được vài con cua đồng hoặc một con cá nhỏ để nấu cho Bác một bát canh”(5).
Hoạt động cách mạng của Bác khi ở nước ngoài luôn có sự giúp đỡ của bạn bè đồng chí quốc tế. Trở về nước, chung quanh Người là những cán bộ tận tụy, trung thành, tin cậy, là nhân dân đùm bọc, che chở. Những nơi Người đến nhân dân từng bước được giác ngộ, hạt giống cách mạng mỗi ngày một đâm chồi nảy lộc. Pác Bó - Cao Bằng- Đầu nguồn cách mạng, nơi vinh dự được đón Bác trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng đã ghi dấu những sự kiện lịch sử: Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng. Thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Ở đây đã tổ chức những ban huấn luyện ngắn ngày để đào tạo cán bộ. Mở lớp dạy chiến thuật du kích, phát triển tổ chức Việt Minh và cơ sở Đảng, đặt kế hoạch vũ trang chống Pháp, chống Nhật... Có thể nói rằng, Pác Bó- Cao Bằng chính là nơi đầu tiên tư tưởng của Người về con đường cách mạng Việt Nam từng bước được vận dụng vào thực tiễn, được bổ sung, phát triển thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến những thắng lợi rực rỡ vinh quang.
--------------------
Chú thích:
(1). Năm (5) người được về nước cùng với Bác là:
ĐỒNG CHÍ LÊ QUẢNG BA (1914-1988): tên thật là Đàm Văn Mông, nhà hoạt động cách mạng và quân sự Việt Nam, Thiếu tướng, người dân tộc Tày, quê Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ năm 1935. Đảng viên Đảng Cộng sản (1936), phụ trách đội quân du kích đầu tiên ở Cao Bằng (1941). Cuối năm 1940, đầu năm 1941 đồng chí đã trực tiếp tham gia vào nhiều công việc chuẩn bị đón Bác về nước. Từ năm 1960, làm Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và đảm nhiệm nhiều trọng trách khác
ĐỒNG CHÍ PHÙNG CHÍ KIÊN (1901-1941): tên thật là Nguyễn Vỹ, quê ở làng Mỹ Quang Thượng, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu (cũ), tỉnh Nghệ An. Năm 1926, sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Những năm sau đó đồng chí được hoạt động gần gũi cạnh Bác, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Trung ương Đảng. Ngày 21-8-1941, đồng chí đã hy sinh trên đường đi làm nhiệm vụ, tại Ngân Sơn. Năm 1990, một phần hài cốt của đồng chí được đưa từ Bắc Kạn về Nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội.
ĐỒNG CHÍ ĐẶNG VĂN CÁP (1894 -1984) hoạt động ở Thái Lan mang bí danh Đặng Văn Linh. Năm 1929 khi hoạt động ở Thái Lan được gặp gỡ và làm việc với Nguyễn Ái Quốc. Năm 1939 đồng chí hoạt động ở Trung Quốc. Đồng chí được cử đi cùng đồng chí Phùng Chí Kiên đón Bác. Sau này đồng chí quay lại làm đông y, nghề đồng chí đã làm khi ở Thái Lan. Đồng chí là Phó chủ tịch rồi Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam.
ĐỒNG CHÍ THẾ AN (họ tên đầy đủ là Đào Thế An), là một trong hơn 40 thanh niên Cao Bằng dự lớp huấn luyện ở Nậm Quang được đi cùng Bác về nước .
ĐỒNG CHÍ HOÀNG VĂN LỘC (có tài liệu viết Phạm Văn Lộc, khi hoạt động ở Thái Lan có tên là Nguyễn Văn Ty). Là người nấu ăn đầu tiên cho Bác. Ngày 3-5-1948 đồng chí Lộc qua đời do một cơn sốt rét ác tính. Hiện nay Bia tưởng niệm liệt sĩ Hoàng Văn Lộc được xây dựng trang trọng tại Khu di tích lịch sử An toàn khu (ATK), Định Hóa Thái Nguyên.
(2). Hồi ký của đồng chí Lê Quảng Ba, ghi năm 1983, lưu tại Phòng Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.
(3). T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, in trong cuốn Hồ Chí Minh: Chuyện kể dọc đường cách mạng, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2006, tra.596
(4). Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Tinh hoa và khí phách của dân tộc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tra.209.
(5). T. Lan: Bác ăn Tết với chúng tôi, báo Nhân Dân ngày 14-2-1961, in trong cuốn Hồ Chí Minh: Chuyện kể dọc đường cách mạng, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2006, tr.521.
Phạm Thị Lai
Nguyên Trưởng phòng Tư liệu - Thư viện, Bảo tàng Hồ Chí Minh