Thăm Thư viện Hoàng gia Bỉ ngày 24/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân Ngô Phương Ly đã trao tặng Thư viện Ấn bản trích từ Mộc bản Triều Nguyễn và một số ấn phẩm giới thiệu về lịch sử văn hóa, đất nước và con người Việt Nam. Ảnh: NGUYỄN KHÁNH
Theo đó, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ VHTTDL trong tổ chức thực hiện; yêu cầu các nhiệm vụ được giao phải xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, nội dung công việc, tiến độ thực hiện, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị; bảo đảm thực hiện theo nguyên tắc "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.
Rà soát toàn diện hệ thống bảo tồn, bảo tàng và các dự án thiết chế văn hóa lớn
Rà soát sơ bộ, nhận diện những vấn đề cấp bách đối với hệ thống bảo tồn, bảo tàng (bảo tàng, di tích) và các dự án thiết chế văn hóa lớn.
Rà soát, đánh giá, phân loại toàn diện thực trạng của hệ thống, bảo tồn, bảo tàng, cụ thể: Thống kê đầy đủ số lượng, loại hình bảo tàng và tập trung làm rõ tình trạng mất cân đối, thiếu hụt về loại hình trong tổng thể hệ thống bảo tàng và xác định rõ khoảng trống cần bổ sung; trên cơ sở đó, đánh giá thực chất hiệu quả hoạt động, chỉ rõ những bảo tàng hoạt động hiệu quả. Thống kê, đánh giá tình trạng các di tích, mức độ xuống cấp của các thiết chế đang vận hành và các dự án thiết chế văn hóa lớn để xác định thứ tự ưu tiên đầu tư; khắc phục tình trạng sửa chữa nhỏ lẻ, chắp vá, kéo dài, đầu tư nhiều lần nhưng không giải quyết căn bản vấn đề.
Chủ động làm giàu các bộ sưu tập hiện vật có giá trị mang tầm cỡ quốc gia.
Nghiên cứu cơ chế và tổ chức hoạt động đưa những cổ vật, hiện vật có giá trị đặc biệt của Việt Nam đang được lưu giữ ở nước ngoài về nước, góp phần hoàn chỉnh câu chuyện lịch sử và làm giàu ký ức quốc gia.
Tổng kết nghiêm túc toàn bộ quá trình triển khai dự án xây dựng Bảo tàng Lịch sử quốc gia và đề xuất phương án có tính khả thi, trước hết phải xác định rõ nội dung câu chuyện trên cơ sở các bộ sưu tập, đối tượng phục vụ, việc ứng dụng công nghệ và mô hình vận hành; thiết kế nội dung trưng bày trước khi thiết kế công trình, đồng thời xác định nhu cầu xã hội trước khi xác định quy mô xây dựng.
Rà soát, khắc phục những khoảng trống trong lưu giữ tư liệu, hiện vật về lịch sử Việt Nam
Rà soát có hệ thống những khoảng trống trong nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và đương đại, đặc biệt, ưu tiên xác định các nhóm tư liệu, hiện vật, công trình, bộ sưu tập và nguồn ký ức trong những lĩnh vực đang biến đổi nhanh và những nguồn tư liệu có nguy cơ mất đi, không thể phục hồi.
Nhận diện đúng những giá trị cần lưu giữ và xác định cụ thể phương án bảo tồn những giá trị đã trở thành một phần của lịch sử, trước khi những giá trị đó mất đi, trong đó tập trung vào những tư liệu được hình thành từ quá trình kiến thiết đất nước, thành tựu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và mô hình phát triển mới của đất nước.
Hình thành năng lực nhận diện, gìn giữ và kiến tạo những giá trị có thể trở thành di sản của tương lai
Xây dựng hệ thống tiêu chí, quy trình và cơ chế phối hợp để đánh giá “tiềm năng di sản” đối với một số nhóm công trình, sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt (bao gồm cả các công trình của doanh nghiệp tư nhân) ngay từ giai đoạn quy hoạch và chuẩn bị đầu tư.
Đối với những công trình có tiềm năng đặc biệt, được xác định ưu tiên đầu tư, nghiên cứu, lập “hồ sơ ký ức” ngay từ khi khởi công để lưu giữ quá trình thiết kế, xây dựng, vận hành, cải tạo và những sự kiện quan trọng gắn với công trình, phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị lâu dài.
Thăm Thư viện Hoàng gia Bỉ ngày 24/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân Ngô Phương Ly đã trao tặng Thư viện Ấn bản trích từ Mộc bản Triều Nguyễn và một số ấn phẩm giới thiệu về lịch sử văn hóa, đất nước và con người Việt Nam. Ảnh: NGUYỄN KHÁNH
Thiết lập kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài
Đánh giá thực chất kết quả triển khai các chương trình số hóa di sản và dữ liệu văn hóa hiện có, làm rõ những nhiệm vụ trùng lặp, phân tán, không tương thích hoặc chưa có chuẩn chung.
Thiết lập và đưa vào vận hành, khai thác Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia bảo đảm thống nhất, kết nối, liên thông, đồng bộ trên toàn quốc theo tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài; ưu tiên trước hết đối với các bảo tàng quốc gia, bảo tàng lớn, cơ quan lưu trữ và một số địa phương có điều kiện.
Bảo đảm mỗi hiện vật khi đưa vào kho dữ liệu dùng chung phải có định danh thống nhất, thông tin về nguồn gốc, hồ sơ khoa học và dữ liệu tương ứng; dữ liệu về di tích, tài liệu, bộ sưu tập từng bước được tổ chức, bảo đảm có nguồn gốc, ngữ cảnh, thẩm quyền xác thực, khả năng truy xuất và liên kết. Quan tâm giải quyết bài toán bảo tồn số dài hạn, bảo đảm dữ liệu có thể được đọc, xác thực và hiểu đúng khi công nghệ thay đổi; xây dựng nguồn dữ liệu tin cậy để các nền tảng số, công nghệ mới và các thế hệ mai sau có thể tiếp cận, hiểu đúng về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam. Việc xây dựng và làm chủ dữ liệu phải gắn với bảo đảm chủ quyền tri thức, quyền chủ động tổ chức, lưu giữ và kể câu chuyện của dân tộc mình.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng thành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thu hút nguồn lực đầu tư, ưu đãi đầu tư hạ tầng văn hóa số, phát triển giải pháp công nghệ cao cho văn hóa và phát triển trọng tâm một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Từng bước chuyển dữ liệu di sản văn hóa thành giá trị kinh tế, nguồn lực phục vụ giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo, quảng bá văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa.
Đổi mới cách đánh giá hiệu quả hoạt động của các thiết chế bảo tồn, bảo tàng; tăng cường gắn kết bảo tàng với giáo dục và đời sống xã hội
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của bảo tàng không chỉ căn cứ vào số lượng khách tham quan, mà phải đánh giá được chất lượng công chúng, mức độ thu hút người trẻ, khả năng thu hút khách quay trở lại, hiệu quả giáo dục, nghiên cứu, mức độ khai thác dữ liệu, khả năng tạo ra tri thức mới, làm sống lại các giá trị văn hóa trong đời sống đương đại và những giá trị xã hội nhận được từ nguồn lực Nhà nước đã đầu tư.
Đưa bảo tàng trở thành không gian học tập thường xuyên, gắn giáo dục lịch sử, văn hóa với hiện vật, không gian và những câu chuyện chân thực tại bảo tàng, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, tình yêu quê hương, đất nước, ý thức trách nhiệm công dân và trách nhiệm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, dân tộc, nhất là trong thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên.
Đóng góp kinh nghiệm và tài liệu, hiện vật phục vụ xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nghiên cứu, xây dựng Đề án thành lập Trung tâm quốc gia về bảo quản và phục chế di sản văn hóa, trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định.
P.V