Phía Đông dãy núi Sạc thuộc xã Kiệt Thạch, nay là xã Thanh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Xã Kiệt Thạch xưa, Thanh Lộc ngày nay là một vùng đất có truyền thống văn hiến, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo từ bao đời. Người xưa ở đây luôn coi việc học là con đường rộng mở để theo đuổi sự nghiệp thành công của những con người có chí hướng. Đã từ lâu, đất Kiệt Thạch đã có câu: “Kiệt Thạch tam khoa tam Tiến sĩ” để lưu danh về ba người con ưu tú của đất này đều đỗ đạt cao vào thời Lê sơ, đó là Tiến sĩ Hoàng Hiền, Hoàng giáp Nguyễn Cung và Tiến sĩ Thái Kính.
Hoàng Hiền (黃 賢) sinh năm 1444 tại làng Bùi Xá, phủ Đức Thọ, hiệu là Liêm Mận tiên sinh, là người chăm chỉ, học giỏi, thông minh nên 17 tuổi, trong kỳ thi Hương 3 năm tổ chức một lần, ông đỗ Hương cống năm Tân Tỵ (1461), niên hiệu Quang Thuận, đời Vua Lê Thánh Tông. Tuy học giỏi nhưng các lần đi thi Hội ông đều không đỗ Tiến sĩ. Vì thế, ông đổi lấy quê mẹ là bà Nguyễn Thị Quý, xã Kiệt Thạch, huyện Thiên Lộc làm quê quán để tiếp tục đi thi. Đến năm 34 tuổi, ông mới đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, đứng thứ 44 trong đệ tam giáp tại khoa thi năm Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478).
Sau khi đỗ Tiến sĩ, Hoàng Hiền được triều đình Lê sơ bổ dụng làm quan và ông đã có nhiều đóng góp cho các đời Vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Ông từng làm Án sát sứ, là chức quan đứng đầu Hiến ty ở các đạo, có nhiệm vụ điều tra, xét duyệt công trạng các quan lại trong triều đình. Sau đó, ông làm quan đến chức Lễ khoa Cấp sự trung, thực hiện việc kiểm tra các công việc của bộ Lễ mang chức Tả Thị lang, là quan phó của Thượng thư Bộ Lễ, trật Tòng tam phẩm.
Nguyễn Cung (阮 龔) sinh năm Đại Hòa thứ 6 (1448), đời Vua Lê Nhân Tông, người xã Kiệt Thạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, xứ Nghệ An, nay thuộc xã Thanh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình quan lại ở kinh đô Thăng Long.
Thuở bình sinh, Nguyễn Cung tỏ rõ là người có tư chất thông minh, tuấn tú, lại hiếu học. Ông theo học chữ Hán khi còn rất nhỏ. Khi thấy đủ tiêu chuẩn dự thi, ông tham gia kỳ thi Hương, đỗ Sinh đồ, Hương cống. Năm 46 tuổi, ông thi Hội và giành bảng vàng ở kỳ thi Đình được tổ chức tại sân điện, do Nhà vua đích thân ra đề ở kinh đô Thăng Long. Trong kỳ thi này, ông đã xuất sắc đỗ Hoàng giáp và được Đức vua trọng vọng ban tặng áo mũ, thết tiệc, các hồng lô làm lễ xướng danh ở nhà Thái học, được ghi tên vào bảng vàng treo ở cửa Đông hoa trước khi về quê làm lễ vinh quy bái tổ. Như vậy, theo chế độ khoa cử thời Lê sơ, sự nghiệp hoạn lộ của ông trở nên rộng mở. Ông được triều đình cử làm quan đến chức Thừa chánh sứ.
Từ năm 1517, ông làm quan Thừa chánh sứ Hải Dương, vào thời kỳ lịch sử biến động nhà Mạc tiếm ngôi nhà Lê. Tình hình chính trị rối ren buộc cha con ông phải di cư từ xã Cẩm La, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương về mở trường dạy học tại quê nhà dưới chân núi Sạc Sơn, xã Kiệt Thạch.
Thái Kính (蔡 敬) sinh năm Mậu Tuất, đời Vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478), người xã Kiệt Thạch, xã Thiên Lộc, phủ Đức Quang, xứ Nghệ An, nay là xã Thanh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Về sau rời về thôn Nham Xá, xã Đậu Liêu, nay là xóm 7, phường Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh. Thân phụ ông là Thái Di Kiên đỗ Hương cống, làm quan đến chức Tri huyện Đông Thành, Nghệ An.
Thuở nhỏ, ông theo học thầy đồ trong làng, hiếu học và học giỏi lại được sự kèm cặp của cha. Khoa thi Hội Tân Mùi, đời Vua Lê Tương Dực, niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511), ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, đứng hạng 3 trong Đệ tam giáp.
Sau khi thi đỗ Tiến sĩ, Thái Kính trải qua các chức quan như Thừa chánh sứ Thuận Hóa, Hữu Thị lang Bộ Hình. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đời Vua Lê Chiêu Tông, năm Quang Thiệu thứ 5 (1520), Vua sai Thái Cảnh làm Thừa chánh sứ Thuận Hóa thay cho Phạm Khiêm Bính”.
Kế thế ba vị đại khoa thời Lê sơ, khoảng giữa thế kỷ XIX, dòng họ Nguyễn Văn tại vùng Kiệt Thạch lại nối tiếp truyền thống văn hiến của quê hương với một gia đình được cả hai cha con đều làm Tế tửu Quốc Tử Giám, đó là gia đình cụ Nguyễn Liên. Người đương thời quen câu thơ ca ngợi:
Cha này, con này, muôn thuở nếp nhà rạng rỡ, / Anh thế, em thế, một dòng văn nghiệp lẫy lừng (tạm dịch)
Người cha tên Nguyễn Liên (1824-1908) hiệu Sạc Phong, tự Hy Lộ, là người con xã Kiệt Thạch đỗ Cử nhân tại trường Hương Nghệ An năm Tự Đức thứ nhất 1848, được triều đình nhà Nguyễn giao nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước đương thời: Huấn đạo huyện Hương Sơn (1866), Quyền nhiếp huyện Nghi Lộc (1869), Tri huyện Bố Trạch (1870), Biên tu Quốc sử quán (1873), Tri phủ Bình Giang (1881) và Tế tửu Quốc Tử Giám (1883), Nguyễn Liên còn được thăng đến chức Hồng lô Tự Khanh kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, nơi đào tạo nhân tài cho đất nước, trong đó có Nguyễn Thượng Hiền là một nhà cách mạng lỗi lạc và là một chí sĩ yêu nước chân chính.
Nguyễn Liên có 8 người con trai thì cả 8 người đều đỗ đạt, trong đó có Nguyễn Văn Trình (1872-1949) là người con thứ 6. Năm Giáp Ngọ (1894), Nguyễn Văn Trình đậu Tú tài tại trường thi Nghệ An. Năm Đinh Dậu (1897), ông đậu Cử nhân tại Huế, đến năm Mậu Tuất (1898), dự thi Hội rồi thi Đình, đậu Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân. Lúc này ở Kiệt Thạch có câu thơ khen rằng (Phục cổ tam khoa):
Hơn 300 năm, xuân Mậu Tuất khôi phục truyền thống cũ /Vừa 27 tuổi, mệnh Nhâm Thân kế nghiệp khoa danh (tạm dịch)
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Văn Trình được bổ nhiệm các chức vụ như Tri phủ Hưng Nguyên, Tri phủ Anh Sơn, Thị lang Bộ Hình, Bố Chánh tỉnh Phú Yên… Dù ở cương vị nào, ông cũng luôn cống hiến và hoàn thành trọng trách được giao.
Trong những năm tháng làm quan, Nguyễn Văn Trình luôn bênh vực quyền lợi cho nhân dân, bảo vệ lẽ phải. Nhận thấy thái độ và hành động của ông là mối nguy hiểm tiềm tàng nên nhà Nguyễn đã điều ông về Huế làm Đốc học tỉnh Thừa Thiên, rồi Tế tửu Quốc Tử Giám. Sau một thời gian, ông được bổ chức Tả Thị lang Bộ Hình, chuyên xét xử những vụ án lớn. Đến lúc được giao xử vụ án Vua Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp vào năm 1916 thì ông đã từ chối thẳng thừng và bị đổi vào Phú Yên làm Bố chánh. Tại đây, ông vẫn đứng lên bênh vực nhân dân địa phương chống lại sự áp bức của chính quyền nên bị khép vào tội thông đồng với dân và bị buộc thôi việc, phải giáng chức. Tuy nhiên, sau đó triều đình Huế lại phải điều ông về phục vụ trong ban Toản tu của Quốc Sử Quán và chủ biên các sách Hưng Quốc biểu lục và Bang giao kỷ yếu.
Khi Vua Duy Tân và Vua Thành Thái bị lưu đày, đến lượt Khải Định và Bảo Đại lên ngôi, chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng suy yếu, bạc nhược. Chán cảnh làm quan, năm 1928, khi mới 56 tuổi, Nguyễn Văn Trình đã đệ đơn xin nghỉ hưu sớm nhưng phải 5 năm sau, triều đình nhà Nguyễn mới chấp thuận và vinh thăng ông hàm Lễ bộ Thượng thư trí sự, nhằm ghi nhận những đóng góp của ông cho triều chính.
Sau khi về hưu, năm 1931, Nguyễn Văn Trình tham gia dạy Hán văn ở trường Cao Xuân Dục (thành phố Vinh, Nghệ An). Trong thời kỳ này, ông giao lưu, tiếp xúc với nhiều bậc sĩ phu yêu nước có ảnh hưởng rộng rãi trong giới trí thức đương thời như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Võ Liêm Sơn… ông hăng hái dạy học, viết văn, dịch sách nhằm chấn hưng nề nếp kỷ cương, cổ động cho tinh thần yêu nước của nhân dân.
Tuy tuổi đã cao nhưng Thượng thư Nguyễn Văn Trình vẫn cống hiến nhiều trí tuệ và tình cảm cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Ông hăng hái tham gia việc làng, việc xã, nhận làm cố vấn cho Việt Minh xã Kiệt Thạch. Năm 1946, ông được cử làm Chủ tịch Liên Việt xã. Năm 1947, ông được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh và là Ủy viên Khu hội Liên Việt Khu IV. Thượng thư Nguyễn Văn Trình cũng chính là Hội trưởng Hội tư văn cuối cùng tại Văn Miếu Hà Tĩnh.
Nguyễn Văn Trình để lại nhiều tác phẩm văn chương có giá trị, các tác phẩm của ông thấm đẫm lòng yêu nước, thương dân, luôn trăn trở trước vận mệnh của quốc gia, dân tộc.
Tam vị đại khoa thời Lê sơ và cha con Nguyễn Liên xã Kiệt Thạch đều là những người có tài và có năng lực. Dù trải qua thời kỳ nào trong cuộc đời, ở vị trí nào, các ông cũng luôn là những người vượt trội về khả năng quản lý, xử lý công việc hợp tình, hợp lý, do đó được triều đình tin tưởng, nhân dân tin yêu, kính trọng và đáp lại, họ luôn hoàn thành công việc của mình một cách xuất sắc. Việc các ông nhờ tài năng và học hành chăm chỉ mà đỗ đạt cao đã được chính quyền đương thời trọng dụng và phát huy được phẩm chất của mình trong việc giúp Vua trị nước, là tấm gương sáng cho các thế hệ sau noi theo học tập, góp phần tạo nên truyền thống học hành khoa bảng của xã Kiệt Thạch xưa, Thanh Lộc ngày nay.
TS Nguyễn Phước Hiền