Những mạch nước giữa phố cổ
Theo Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích Hội An, hơn 80 giếng cổ đã được sưu tầm, ghi nhận. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có đầy đủ cứ liệu để xác định chính xác niên đại của toàn bộ hệ thống giếng.
Giếng phân bố ở nhiều khu vực, từ khu phố cổ đến các vùng ven như Cẩm Thanh, Thanh Hà và khu vực phía Bắc sông Đế Võng.
Nếu giếng ở vùng ven thường có hình tròn thì trong khu phố cổ xuất hiện nhiều giếng hình vuông hoặc kiểu “trên tròn, dưới vuông”. Giếng thường nằm trong khuôn viên đình, miếu, nhà thờ tộc, hội quán của người Hoa.
Gạch và đá là những vật liệu chủ yếu để xây thành giếng. Đặc biệt, dưới đáy nhiều giếng có khung gỗ lim rộng bản nhằm chống sụt lún, sạt lở. Theo thống kê, giếng hình tròn chiếm khoảng 63%, hình vuông khoảng 17,3% và kiểu trên tròn dưới vuông khoảng 16%.
Điều làm nên nét đặc biệt của giếng cổ Hội An không chỉ là kiến trúc mà còn ở giá trị tâm linh. Nhiều giếng có bàn thờ “thần giếng”. Vào ngày Rằm, mùng Một hay lễ, Tết, người dân vẫn đến thắp hương, cầu mong bình an, may mắn.
Với họ, giếng không đơn thuần là nơi lấy nước mà còn là một phần không gian văn hóa của cộng đồng.
Giếng Bá Lễ - dấu tích từ thời Champa
Nhắc đến giếng cổ Hội An, không thể không nhắc Giếng Bá Lễ, nằm trong một con kiệt nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo.
Giếng có hình vuông, thành lát gạch, đáy có khung gỗ và sâu khoảng 8m. Theo các nhà nghiên cứu, giếng có dấu tích từ thời Champa, khoảng thế kỷ VIII - IX. Khung gỗ lim dưới đáy được cho là đã tồn tại qua khoảng một thiên niên kỷ.
Giếng cổ Bá Lễ. Nguồn: tienphong.vn
Trong thành giếng cổ Bá Lễ. Nguồn: tienphong.vn
Tương truyền, vào khoảng thế kỷ XX, một người phụ nữ tên Bá Lễ đã bỏ hơn 100 đồng tiền Đông Dương để trùng tu giếng. Từ đó, người dân gọi tên giếng theo tên bà.
Điều đặc biệt là nguồn nước Giếng Bá Lễ từ lâu nổi tiếng trong, ngọt và ít khi cạn. Dù phố cổ ngày nay đã có hệ thống nước máy, nhiều người vẫn tìm đến giếng lấy nước về nấu ăn, pha trà, chế biến các món đặc trưng của Hội An như cao lầu, xí mà.
Từ nhu cầu sử dụng nguồn nước ấy, nghề chở nước từng hình thành và tồn tại ở Hội An. Một chiếc giếng vì thế đã vượt ra ngoài chức năng cung cấp nước để gắn kết với đời sống kinh tế, văn hóa, ẩm thực của phố Hội.
Đó cũng là minh chứng sinh động cho sức sống của di sản. Giếng cổ không nằm im trong quá khứ mà vẫn hiện diện trong đời sống hôm nay.
Những chiếc giếng và ký ức cộng đồng
Ngoài Giếng Bá Lễ, Hội An còn có nhiều giếng cổ mang những nét riêng.
Giếng Mái nằm tại ngã năm, trước chợ Hội An và chùa Ông. Đây là giếng công cộng duy nhất trong khu phố cổ được lợp mái ngói vảy cá.
Ở Trà Quế có Giếng Đá, thân giếng hình tròn nhưng miệng hình vuông, bốn góc có bốn trụ đá vuông. Giếng vừa cung cấp nước ngọt vừa là nơi người dân nhang khói, cúng thần vào những ngày Rằm, mùng Một.
Giếng Đá - Trà Quế. Nguồn: hoianheritage.net
Mỗi chiếc giếng là một câu chuyện. Có chiếc gắn với một khu dân cư, một dòng họ; có chiếc gắn với chợ, đình, chùa; có chiếc lại gắn với nghề nghiệp và ẩm thực. Qua thời gian, những mạch nước ấy đã trở thành nơi lưu giữ ký ức của nhiều thế hệ cư dân Hội An.
Di tích quốc gia “Giếng Tiên” giữa biển Cù Lao Chàm
Dấu ấn giếng cổ còn hiện diện trên Cù Lao Chàm, cách biển Cửa Đại khoảng 15km.
Giếng cổ Champa trên đảo có miệng rộng khoảng 1,2m, sâu khoảng 5m, thân giếng hình ống tròn, nền hình vuông. Những viên gạch bên trong được xếp chồng lên nhau theo kiểu đặc trưng.
Điều khiến du khách ngạc nhiên là giếng chỉ cách biển khoảng 100m nhưng nước vẫn ngọt, trong và mát. Theo các bậc cao niên, trong khoảng hai thế kỷ qua, nguồn nước giếng chưa từng bị nhiễm mặn. Người dân từng đào thêm ở những vị trí khác nhưng không tìm được mạch nước ngọt tương tự.
Đây từng là nguồn nước quan trọng của cư dân trên đảo. Ngày nay, người dân vẫn đến lấy nước, còn du khách tìm đến tham quan, múc nước uống và nghe những câu chuyện dân gian gắn với chiếc giếng.
Giếng cổ Champa ở Cù Lao Chàm. Nguồn: culaochamtour.com
Giếng cổ này được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 2006. Trong dân gian còn lưu truyền những câu chuyện về uống nước giếng để cầu duyên, cầu con, nên nơi đây còn được gọi là “Giếng Tiên”.
Từ những giếng cổ trong lòng phố Hội đến giếng cổ trên Cù Lao Chàm, mỗi công trình đều là một phần ký ức của vùng đất.
Giếng cổ Hội An không chỉ giữ một mạch nước trong lòng đất mà còn giữ những lớp trầm tích văn hóa qua thời gian. Đó là dấu ấn của cư dân Champa, là dấu tích của những thế hệ người Việt, người Hoa và cũng là ký ức sống động của cộng đồng hôm nay. Bởi vậy, bảo tồn những chiếc giếng cổ cũng chính là gìn giữ một phần hồn cốt di sản Hội An.
Tiên Sa