Tuy nhiên, để nói về cách làm “độc nhất, vô nhị” này, trong một bối cảnh đất nước còn rối ren, chia cắt bởi thù trong, giặc ngoài, hẳn phải cần một tập thể những nhà nghiên cứu, trên nhiều lĩnh vực về kinh tế, tài chính, tiền tệ và ngân hàng, mới có thể nói hết được những cái hay, cái tuyệt vời, sự sáng tạo và tinh thần vượt khó của những bậc tiền bối - điều mà người viết không đủ sức làm được. Do vậy, với tư cách là người làm di sản, tôi chỉ dám nêu ra những giá trị hiện hữu, thông qua những đồng tiền hiện hữu, còn lưu lại đến hôm nay, như một vật chứng của bảo tàng, nhằm minh chứng một phần nào cho những thành tựu của đất nước, mà Nam Bộ thành đồng đã ghi dấu, trong quãng thời gian từ 1947 đến 1954, trên lĩnh vực ấy.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân đội Anh giúp đỡ Pháp tái chiếm Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định với âm mưu lấn chiếm toàn Nam Bộ để làm bàn đạp chiếm đóng nước ta một lần nữa. Hoàn cảnh khó khăn và phức tạp nêu trên, tiền Ngân hàng Đông Dương vẫn được người dân sử dụng, cùng với những đồng tiền mệnh giá 20 đồng, 50 đồng và 100 đồng, do Trung ương phát hành từ Liên khu V đưa vào, nhưng dường như vẫn không đủ để lưu thông ở vùng đất Nam Bộ lúc này. Để đối phó với hoàn cảnh và tình hình khan hiếm tiền bạc lúc đó, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ đã có nhiều sáng kiến khác lạ và táo bạo, nhằm ổn định hoạt động thương mại trong vùng kiểm soát của mình và bảo vệ quyền lợi của người dân, qua Chỉ thị số 11/TV-2, cho phép xé đôi những tờ giấy bạc mệnh giá nhỏ Đông Dương, bao gồm 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng và 20 đồng để tiêu dùng trong căn cứ kháng chiến. Giá trị mỗi mảnh cũng bằng một nửa của những mệnh giá nêu trên.
Giấy bạc 100 đồng - Mẫu Kháng chiến kiến quốc, 1947 - 1954
Cuối năm 1947, tại Nam Bộ, người Pháp tuyên bố không thừa nhận tờ giấy bạc 100 đồng vàng của chính Ngân hàng Đông Dương phát hành, nhằm tạo ra sự bất ổn trong đời sống của người dân và hoạt động thương mại ở Nam Bộ. Để đối phó với thủ đoạn trên, chính quyền kháng chiến của ta ở Nam Bộ đã đưa ra một chủ trương, đóng dấu của chính quyền ở mặt trước và sau, cùng với dòng chữ “Ủng hộ triệt để chính phủ Hồ Chí Minh”, nhằm tiếp tục lưu hành 100 đồng tiền vàng Đông Dương, nơi chính quyền kiểm soát, thậm chí, đến cả nơi tạm chiếm của người Pháp, khiến cho hoạt động thương mại tạm thời ổn thỏa.
Đối phó với nạn khan hiếm giấy bạc mệnh giá nhỏ, chính quyền kháng chiến Nam Bộ còn cho phép cắt đôi loại mệnh giá nêu trên của ngân hàng Đông Dương, được coi như một nửa giá trị, để lưu hành, với quy định, phải có giấy phép kiểm soát, phải có chữ ký của chính quyền và Trưởng Ty ngân khố tỉnh, được đóng mộc của Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh.
Đó là những đối phó mang ý nghĩa tình thế của chính quyền cách mạng, trước âm mưu phá hoại của người Pháp, thể hiện sự ứng phó kịp thời, tinh nhậy, sáng tạo của những người làm trong lĩnh vực tiền tệ - tài chính ở những thời khắc và giai đoạn khó khăn nhất, nhưng về tầm nhìn lâu dài và chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, qua Sắc lệnh số 102/SL ngày 1 tháng 11 năm 1947 và Sắc lệnh số 147/SL, ngày 2 tháng 3 năm 1948, chính phủ đã cho phép phát hành tại Nam Bộ tiền của Ngân hàng Trung ương với nhiều mệnh giá: 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng và 100 đồng. Những đồng tiền trên đều được in chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, chữ ký của đại diện Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ và đại diện Tổng Giám đốc Ngân khố quốc gia, Giám đốc Ngân khố Nam Bộ.
Giấy bạc 50 đồng - Mẫu Công nông, 1947 - 1954
Những đồng tiền có mệnh giá trên, dù có chất lượng giấy chưa tốt, nhưng có đủ độ bền để lưu thông, trao đổi, có màu sắc hài hòa, bắt mắt, có thiết kế chặt chẽ, với nhiều chủ đề: công - nông - binh - dân quân du kích…, mang tầm tư tưởng mẫu mực của tinh thần đất nước kháng chiến, kiến quốc. Trên mỗi mệnh giá, dù lớn hay nhỏ, chủ quyền và tính chất của một nước Việt Nam mới đều được khẳng định, qua những dòng chữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” và “Giấy bạc Việt Nam”. Bố cục hình ảnh trên những đồng tiền tài chính ở Nam Bộ có những nét chung với hệ thống tiền tệ Việt Nam thời kỳ này, nhưng cũng có những nét riêng, mang bản sắc dân tộc, bản sắc vùng miền, đậm ý nghĩa thời đại và giàu giá trị thẩm mỹ, giá trị khoa học, giá trị nhân văn, phản ánh một đội ngũ có tri thức toàn diện về tiền tệ, cho dù, đội ngũ ấy được sản sinh ra từ một đất nước vừa thoát khỏi lầm than của chế độ thực dân, phong kiến. Những họa sĩ thiết kế, những người thợ in ấn, những sắc màu trên những đồng tiền, những chất liệu trên mỗi mệnh giá…, đều là kết tinh của một tinh thần yêu nước, vì dân, đem đến một sức sống mới, được cộng đồng ủng hộ và tin dùng, không chỉ vì lòng yêu nước, sùng kính vị Cha già dân tộc, bảo vệ chính quyền, mà còn vì, những đồng tiền ấy chứa đựng những hình ảnh của mỗi người dân, của mỗi vùng miền đất nước, khác với những đồng tiền của Ngân hàng Đông Dương thuộc Pháp trước đó, đã từng được sử dụng. Đó là những thông điệp và chắc chắn còn nhiều thông điệp khác nữa, mang giá trị vật thể và phi vật thể của sưu tập giấy bạc Tài chính Nam Bộ nói riêng và hệ thống tiền Việt Nam mới ở thời kỳ này nói chung, nhưng chủ yếu, tác giả bài viết muốn chuyển tải, với mong muốn di sản trên sẽ trở thành những bảo vật, mang ký ức của một thời hào hùng của dân tộc Việt Nam.
Ở Nam Bộ, ngoài giấy bạc Tài chính, để ứng phó với từng hoàn cảnh, Sắc lệnh số 102/SL, đã được nhắc tới ở phần trên, còn cho phép Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ ban hành Nghị định 267/NĐ ngày 28 tháng 8 năm 1949, cho lưu hành Tín phiếu Nam Bộ, Phiếu đổi chác, Phiếu tiếp tế ở mỗi tỉnh thuộc Nam Bộ, ví như Sóc Trăng, Vĩnh Long, Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Bến Tre dùng Phiếu đổi chác và Phiếu tiếp tế, nhưng Trà Vinh, Vĩnh Trà, Thủ Biên… lại dùng Tín phiếu, đều có giá trị bản vị ngang bằng với giấy bạc Trung ương phát hành và giấy bạc của Nam Bộ. Loại hình nêu trên, rất phong phú và đa dạng, nhưng đều có chung hình ảnh, là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ đề nông dân, công nhân, chiến sĩ, du kích đang lao động, sản xuất và sẵn sàng chiến đấu.
Ở Nam Bộ, còn có một hình thức khác, tương tự như Trung Bộ, lưu hành loại Séc ghi tên, 1000 đồng, 5000 đồng, 10.000 đồng, để hạn chế lượng tiền mặt lưu hành, giải quyết những giao dịch về mua bán ở cửa hàng, đóng thuế hoặc rút tiền ngân hàng. Tổng giá trị Séc đã phát hành là 94,5 triệu đồng.
Như vậy là, vào giai đoạn từ năm 1947 đến 1954, với cách làm của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng, dưới sự định hướng và chỉ đạo của Trung ương, đã có nhiều sáng tạo và đổi mới, để làm nên một sự khác biệt, thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh, tạo nên một sự đa sắc, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi. Bài học về lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng trong thời kỳ kháng chiến 9 năm, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị về nguyên lý để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, lạc quan, tự tin, đột phá.
|
Để đối phó với hoàn cảnh và tình hình khan hiếm tiền bạc lúc đó, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ đã có nhiều sáng kiến khác lạ và táo bạo, nhằm ổn định hoạt động thương mại trong vùng kiểm soát của mình và bảo vệ quyền lợi của người dân, qua Chỉ thị số 11/TV-2, cho phép xé đôi những tờ giấy bạc mệnh giá nhỏ Đông Dương, bao gồm 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng và 20 đồng để tiêu dùng trong căn cứ kháng chiến. Giá trị mỗi mảnh cũng bằng một nửa của những mệnh giá nêu trên. |
|
Qua Sắc lệnh số 102/SL ngày 1 tháng 11 năm 1947 và Sắc lệnh số 147/SL, ngày 2 tháng 3 năm 1948, chính phủ đã cho phép phát hành tại Nam Bộ tiền của Ngân hàng Trung ương với nhiều mệnh giá: 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng và 100 đồng. Những đồng tiền trên đều được in chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, chữ ký của đại diện Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ và đại diện Tổng Giám đốc Ngân khố quốc gia, Giám đốc Ngân khố Nam Bộ. Những đồng tiền có mệnh giá trên, dù có chất lượng giấy chưa tốt, nhưng có đủ độ bền để lưu thông, trao đổi, có màu sắc hài hòa, bắt mắt, có thiết kế chặt chẽ, với nhiều chủ đề: công - nông - binh - dân quân du kích…, mang tầm tư tưởng mẫu mực của tinh thần đất nước kháng chiến, kiến quốc. Trên mỗi mệnh giá, dù lớn hay nhỏ, chủ quyền và tính chất của một nước Việt Nam mới đều được khẳng định, qua những dòng chữ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” và “Giấy bạc Việt Nam”. |
Bài và ảnh: TS Phạm Quốc Quân
Ủy viên Thường vụ Hội Di sản Văn hóa Việt Nam; nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia