Giám định cổ vật thật - giả: Bài 1- Giám định theo chất liệu và theo phong cách nghệ thuật

Trong bối cảnh thị trường sưu tầm cổ vật phát triển nhanh, nhu cầu giao dịch cổ vật ngày càng lớn, đồng thời công nghệ làm giả cũng tinh vi hơn, công tác giám định càng trở nên quan trọng. Một kết luận giám định đúng không chỉ có ý nghĩa trong việc xác lập giá trị kinh tế của hiện vật mà còn liên quan trực tiếp tới bảo tồn di sản, nghiên cứu lịch sử, nhận diện bản sắc văn hóa và xây dựng tri thức khoa học về quá khứ. Vì vậy, giám định cổ vật thật - giả cần được xem như một nghệ thuật nhận thức dựa trên nền tảng khoa học, nơi mỗi chi tiết của hiện vật đều có thể trở thành chứng cứ nếu được đọc đúng trong mối liên hệ tổng thể.

TS Phạm Quốc Quân (trái) và TS Nguyễn Văn Đoàn, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia thẩm định ấn vàng Hoàng đế chi bảo (tháng 11-2023 tại văn phòng hãng 
đấu giá Million - Pháp)

1. Giám định theo chất liệu:
Đây là bước khởi đầu có ý nghĩa nền tảng trong toàn bộ quá trình nhận diện cổ vật. 
Mỗi loại vật liệu như đất nung, gốm sứ, gỗ, đá, đồng, sắt, giấy, vải hay hợp kim đều mang một lịch sử kỹ thuật riêng, một cách thức chế tác riêng và đặc biệt là một quy luật lão hóa, phong hóa khác nhau theo thời gian. Người giám định vì thế không thể chỉ quan sát bề ngoài mà phải đọc được mối quan hệ giữa cấu trúc vật liệu, dấu vết gia công, hiện trạng bề mặt và chức năng sử dụng ban đầu của hiện vật. Một cổ vật thật thường cho thấy sự thống nhất tự nhiên giữa cốt liệu, kỹ thuật chế tác, mức độ mài mòn, các vết nứt, lớp cặn bám và bối cảnh lịch sử mà nó thuộc về. Ngược lại, đồ giả thường chỉ mô phỏng được một số biểu hiện bên ngoài mà khó đạt tới sự nhất quán ở nhiều tầng lớp thông tin cùng lúc. Chính vì vậy, giám định theo chất liệu phải được thực hiện như một thao tác đọc hiện vật từ bên trong ra bên ngoài, từ cấu trúc tới bề mặt, từ dấu vết kỹ thuật tới dấu vết thời gian.
Đối với nhóm đất nung và gốm sứ: Việc giám định cần bắt đầu từ cốt liệu: độ mịn hay thô của đất, màu xương gốm, độ  xốp, tạp chất, hạt khoáng, độ nung già hay non, cũng như sự tương thích giữa cốt và lớp men. Ở đồ gốm thủ công truyền thống, người ta thường thấy vết bàn xoay, đường cắt chân đế, vết sửa mộc, chỗ men chảy, men co, bọt khí nhỏ, độ dày mỏng không tuyệt đối đồng đều hoặc những sai lệch rất nhỏ nhưng tự nhiên trong hình dáng. Những dấu hiệu ấy phản ánh kỹ thuật làm gốm của từng thời kỳ, từng trung tâm lò và từng loại sản phẩm. Hiện vật thật sau quá trình tồn tại dài lâu còn tích lũy thêm các dấu vết lão hóa như mòn ở mép miệng, chân đế nhẵn do sử dụng, lớp cặn khoáng bám trong khe nứt, sự xuống màu của men hoặc những vết rạn men hình thành theo quy luật vật lý lâu dài. Trong khi đó, đồ giả thường dễ lộ ở chỗ quá hoàn hảo hoặc quá cố tình tạo cũ bằng cách bôi dầu, thuốc tím, bùn, đất hoặc ngâm nước chè, ngâm dưới biển cho rêu, hàu bám. Đồ gốm sứ giả cổ rạn men nông, chất bẩn chỉ nằm trên mặt, cặn đất không ăn vào vi kẽ, chân đế bị mài một cách cố ý, hoặc cốt gốm và men không đồng nhất với nhau về kỹ thuật và niên đại. Với gốm sứ cao cấp, nhất là các dòng men đơn sắc, men lam, men nhiều màu hoặc men trắng ngà, người giám định còn phải chú ý tới sắc độ men, độ thấu quang, cách vẽ hoa văn và tinh thần thẩm mỹ của lò gốm, bởi đây là những đặc điểm mà công nghệ làm giả khó tái hiện trọn vẹn.

Bàn tay tượng Phật (chất liệu gỗ) được tìm thấy tại khu vực Bưng Đá Nổi - Lung Cột Cầu, Nhơn Thành 
(trưng bày tại Bảo tàng Cần Thơ).  Ảnh: ĐÌNH TUYỂN

Đối với đồ gỗ: Nhất là tượng thờ, khám thờ, hoành phi câu đối, ngai, kiệu hay đồ tự khí sơn son thếp vàng, việc giám định phức tạp hơn vì hiện vật thường đã trải qua nhiều lần sử dụng, sửa chữa, sơn lại hoặc thay thế bộ phận. Người giám định phải nhìn đồng thời vào loại gỗ, thớ gỗ, độ khô, hiện tượng co ngót, nứt dọc thớ, kỹ thuật ghép mộng, phương pháp đục chạm và cấu trúc các lớp hom, sơn then, sơn son, quỳ vàng hay quỳ bạc. Hiện vật nguyên gốc thường có độ lão hóa phân bố hợp lý: chỗ tay chạm nhiều thì mòn bóng, chỗ khuất bụi bám sâu, lớp sơn nứt chân chim theo quy luật, lớp thếp xỉn màu có chiều sâu, còn các mộng ghép cũ cho thấy sự hao mòn tự nhiên và biến dạng theo thời gian. Đồ làm giả hoặc phục chế quá mức thường dùng gỗ cũ để đánh lừa cảm giác về niên đại, nhưng lại để lộ ở bề mặt sơn quá mới, vàng thếp thiếu độ lắng, vết nứt giả không gắn với cấu trúc thớ gỗ, hoặc độ mòn được tạo đồng loạt một cách thiếu nhất quán. Có trường hợp một pho tượng có cốt gỗ cũ nhưng phần đầu, tay hoặc bệ được thay mới; cũng có trường hợp cả hiện vật là sản phẩm mới nhưng được khò, hun khói, ngâm bùn, đất hoặc xử lý hóa chất để tạo vẻ cổ. Vì vậy, với đồ gỗ, điều quan trọng là không tách rời cốt gỗ khỏi lớp phủ và khỏi phong cách chạm khắc, bởi chỉ khi ba yếu tố này cùng thống nhất mới có thể tiến gần tới một nhận định đáng tin cậy.

Bảo vật quốc gia (chất liệu đá) "Miệng cắn thân, 
chân xé mình" ở đền thờ Lê Văn Thịnh, Bắc Ninh


Với đồ đá và kim loại: Tiêu chí quan trọng là sự thống nhất giữa kỹ thuật gia công, vi vết công cụ, lớp patina và quá trình phong hóa hay ăn mòn tự nhiên. Đồ đá cổ thường mang dấu vết đục, mài, khoan, đúc hoặc tạo khối bằng những công cụ phù hợp với trình độ kỹ thuật của thời đại; các cạnh sắc hiếm khi còn nguyên mà thường có độ mòn, các hốc lõm có thể tích tụ khoáng vật, còn bề mặt ngoài biến đổi màu sắc theo môi trường tồn tại lâu dài. Đồ giả bằng đá có thể bắt chước hình thức khá tốt nhưng thường khó tái tạo được chiều sâu của lớp phong hóa, dễ để lộ vết máy hiện đại, màu nhuộm, đúc bằng bột đá hoặc sự mâu thuẫn giữa phong cách điêu khắc với độ cũ của bề mặt. 

Cửu đỉnh ở hoàng cung Huế (chất liệu đồng), di sản tư liệu khu vực châu Á- Thái Bình Dương.


Với kim loại: Đặc biệt là đồng, đồng thau, sắt hay các hợp kim cổ, hiện vật thật thường hình thành lớp gỉ theo quy luật hóa học kéo dài: gỉ ăn sâu, có phân tầng, có liên hệ hữu cơ với lõi vật liệu và nhiều khi gắn với điều kiện chôn vùi hoặc bảo quản cụ thể. Trái lại, đồ giả thường dùng axit, nhiệt, nhuộm màu hay mài cơ học để tạo bề mặt cổ, nên lớp gỉ thiếu chiều sâu, màu sắc quá đồng đều hoặc bong tách bất thường. Ở những nhóm hiện vật đặc thù như trống đồng Đông Sơn, tượng đồng Phật giáo, điêu khắc đá Chămpa hay bia ký cổ, việc giám định chất liệu còn phải kết hợp đọc phong cách chạm khắc, cấu trúc biểu tượng và quy luật kỹ thuật riêng của từng truyền thống mỹ thuật. Nói cách khác, chất liệu không bao giờ đứng một mình; nó luôn phải được hiểu trong mối liên hệ với kỹ nghệ tạo tác, phong các nghệ thuật và bối cảnh văn hóa mà hiện vật thuộc về
Với đồ giấy và đồ vải: Việc phân biệt thật - giả đòi hỏi sự quan sát đặc biệt tinh tế vì đây là những chất liệu hữu cơ rất nhạy cảm với môi trường, dễ hư hại, dễ phục chế và cũng dễ bị lợi dụng để tạo cảm giác cổ. Ở đồ giấy như sắc phong, thư tịch, tranh giấy, bản đồ, văn khế hay các loại giấy viết tay, cần xem đồng thời cấu trúc sợi giấy, độ dày mỏng, màu ngả của nền giấy, độ giòn, dấu gấp, vết mòn ở mép, cách thấm và loang của mực, cũng như quan hệ giữa chữ viết, con dấu, hoa văn in và bề mặt giấy. Giấy cổ thật thường có quá trình lão hóa không hoàn toàn đồng đều nhưng hợp lý: chỗ gấp nhiều thì sờn yếu hơn, mép giấy bị mòn tự nhiên, sắc giấy ngả màu có chiều sâu, vết ố do ẩm mốc hay oxy hóa ăn vào thớ giấy chứ không chỉ nằm trên bề mặt. Mực viết hoặc mực in cũ thường ngấm vào cấu trúc giấy theo cách phù hợp với loại giấy và kỹ thuật của thời kỳ đó; dưới kính lúp có thể thấy độ loang, độ ngấu và sự lão hóa tự nhiên khác với mực hiện đại. Đồ giấy giả thường dùng giấy cũ hoặc giấy được nhuộm trà, hun khói, phơi nắng, xử lý hóa chất để tạo màu ố, nhưng các dấu hiệu lão hóa lại phân bố máy móc, quá đồng đều hoặc không ăn khớp với nếp gấp, mép rách và nội dung văn bản. Có trường hợp nền giấy cũ nhưng chữ, dấu, triện son hoặc màu vẽ lại là vật liệu mới; cũng có trường hợp giấy mới được in, viết rồi cố ý vò, xé, nhuộm để giả cổ. Vì vậy, với đồ giấy, cần đặc biệt chú ý tính thống nhất giữa nền giấy, mực, bút pháp, kỹ thuật in ấn, hình thức đóng ấn và nội dung văn bản, bởi chỉ một chi tiết lệch thời cũng có thể làm lộ bản chất không chân xác của hiện vật.

Lá đề ở Hoàng thành Thăng Long (chất liệu gốm)


Chi tiết trên áo Long bào (chất liệu vải) trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế



Đối với đồ vải: Y phục cổ, khăn, cờ, trướng, vải thêu, tranh thêu hay các đồ tế tự bằng sợi tự nhiên, người giám định phải đọc được đồng thời chất sợi, kiểu dệt, mật độ sợi, kỹ thuật nhuộm, kỹ thuật thêu may, dấu vết sử dụng và quy luật suy thoái của vật liệu. Vải cổ thật thường cho thấy sự lão hóa gắn với cấu trúc sợi: sợi tơ, sợi bông, sợi gai hay sợi lanh suy yếu dần theo chiều chịu lực; màu nhuộm bạc đi không hoàn toàn đều mà phụ thuộc vào ánh sáng, ma sát và cách gấp cất; đường chỉ may có thể đứt, giòn hoặc đổi màu phù hợp với tuổi và điều kiện bảo quản. Những vùng tiếp xúc nhiều như mép áo, cổ tay, viền khăn, chỗ treo hoặc chỗ gấp thường mòn trước, trong khi các phần khuất giữ được sắc độ đậm hơn. Đồ giả hoặc đồ phục dựng quá mức thường để lộ ở chỗ dùng sợi tổng hợp, thuốc nhuộm hiện đại, đường may máy, hoa văn thêu thiếu nhịp điệu thủ công, hoặc tạo cũ bằng cách giặt hóa chất, chà xát, phơi nắng để bạc màu đồng loạt. Nhiều trường hợp dùng nền vải cũ rồi thêu bổ sung họa tiết mới, hoặc giữ kiểu thức cổ nhưng lại sử dụng màu nhuộm và chỉ thêu không phù hợp với giai đoạn lịch sử của hiện vật. Bởi vậy, với đồ vải, cũng như với đồ giấy, việc giám định không thể dừng ở cảm giác trông có vẻ cũ mà phải kiểm tra tính nhất quán giữa chất liệu sợi, kỹ thuật dệt may, sắc độ màu, dấu vết sử dụng và phong cách trang trí; đồng thời nếu cần, nên kết hợp các phương pháp khoa học như soi sợi, phân tích thuốc nhuộm hoặc định tuổi vật liệu hữu cơ để củng cố nhận định.
2. Giám định theo phong cách nghệ thuật
Nếu giám định chất liệu giúp nhận biết bản chất của hiện vật thì giám định phong cách nghệ thuật giúp nhận ra nguồn gốc văn hóa của nó. 
Đây là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng vì đồ giả thường có thể sao chép tương đối giống hình thức bên ngoài nhưng rất khó tái hiện đúng ngôn ngữ tạo hình, tiết tấu trang trí, tinh thần thẩm mỹ và hệ biểu tượng của một thời đại cụ thể. Trong giám định gốm sứ, chẳng hạn, không thể chỉ nhìn rồng, phượng, sen, mây, sóng nước, bát bảo hay các đồ án cát tường như những mô típ rời rạc, mà cần hiểu chúng được thể hiện theo phong cách nào, nằm ở vị trí nào trên hình thể di vật, có phù hợp với công năng sử dụng và với trung tâm lò sản xuất không. Gốm Việt Nam nhiều thời kỳ thường thiên về vẻ thanh thoát, mềm mại, tinh tế và gần với mỹ cảm bản địa; trong khi không ít dòng gốm Trung Quốc, nhất là đồ cung đình, thiên về tính quy chuẩn, bố cục chặt chẽ, biểu tượng đế quyền và ngôn ngữ trang trí mang tính chuẩn mực cao. Khi một hiện vật pha trộn tùy tiện những yếu tố vốn thuộc các thời đại, trung tâm chế tác hoặc hệ mỹ thuật khác nhau, người giám định cần đặc biệt thận trọng, bởi đó thường là dấu hiệu của sự sao chép chiết trung hoặc làm giả theo lối tích hợp cái đẹp mà thiếu logic lịch sử.
Đối với các hiện vật có nhiều bộ phận như thạp, bình, hộp, lọ có nắp, chân đèn, lư gốm, pháp khí, đồ đồng nghi lễ hay trống đồng, nguyên tắc cốt lõi là phải kiểm tra sự thống nhất của toàn bộ cấu trúc. Một hiện vật thật thường cho thấy mối quan hệ tự nhiên giữa thân, vai, cổ, nắp, quai, chân đế và chương trình trang trí. Các thành phần ấy không chỉ ăn khớp về mặt hình học mà còn ăn khớp về ngôn ngữ tạo hình, tỉ lệ, công năng và ý nghĩa biểu tượng. Đồ ghép hoặc đồ giả thường lộ sự lệch pha giữa các phần: thân mang phong cách của một thời kỳ, còn nắp hoặc chân đế lại gợi đến thời kỳ khác; hoa văn ở quai không ăn nhập với hoa văn trên thân; hoặc kết cấu vật lý cho thấy các bộ phận đã bị thay, ghép, chỉnh sửa. Trong thực tế sưu tầm, có không ít hiện vật được tạo dựng bằng cách ghép bộ phận thật với bộ phận mới, hoặc ghép các bộ phận không cùng nguồn gốc để thành một món đồ hoàn chỉnh có giá trị cao hơn. Nếu chỉ nhìn tổng thể bên ngoài mà không quan sát điểm tiếp giáp, độ mòn của từng phần và sự hợp lý của kết cấu, phong cách trang trí người giám định rất dễ bị đánh lừa.
Với tranh và tượng, giám định phong cách càng đòi hỏi độ nhạy cảm cao hơn, bởi đây là những loại hình mà cá tính nghệ thuật và tinh thần thời đại biểu lộ rất rõ. Tranh thật thường thể hiện sự thống nhất giữa bút pháp, bố cục, nhịp điệu nét, sắc độ màu, chất liệu nền, chất kết dính và tình trạng lão hóa của bề mặt. Một bức tranh có thể mang giấy cũ hoặc vải cũ, nhưng nếu lớp màu, bút pháp và cách xử lý không gian không phù hợp với tác giả hoặc giai đoạn nghệ thuật mà di vật thuộc về, tính chân xác vẫn cần bị nghi ngờ. Tượng cũng vậy: độ chín của tạo khối, tỉ lệ cơ thể, cách xử lý y phục, thủ ấn, khuôn mặt, bệ tượng và thần thái là những yếu tố rất khó giả một cách trọn vẹn. Khi giám định tượng Phật, tượng thần hay tượng chân dung, phải đặt hiện vật trong hệ quy chiếu của tôn giáo, vùng văn hóa và niên đại cụ thể. Tượng Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản hay Chămpa tuy có thể giao thoa ảnh hưởng nhưng vẫn có những quy luật tạo hình và biểu tượng riêng. Một pho tượng nếu pha tạp vô cớ giữa các kiểu vương miện, y phục, thủ ấn và khuôn mặt thuộc nhiều truyền thống khác nhau thường là sản phẩm sao chép hoặc phục dựng thiếu cơ sở. Vì vậy, giám định phong cách nghệ thuật không chỉ là nhìn xem hiện vật đẹp hay có thần mà là nhận diện được sự hài hòa nội tại của hình thức trong mối liên hệ với lịch sử mỹ thuật.


(Còn nữa)

PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng
Ủy viên Ban chấp hành Hội Di sản Văn hóa Việt Nam; Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL