Đờn ca tài tử Nam Bộ: Giữ hồn phương Nam giữa nhịp sống hiện đại

Có những thanh âm chỉ cần cất lên đã gợi nhớ cả một vùng đất. Tiếng đàn kìm khoan thai, tiếng đàn cò réo rắt, tiếng đàn tranh ngân nga hay tiếng guitar phím lõm hòa cùng giọng ca đã trở thành âm thanh quen thuộc của miền đất Nam Bộ. Qua hơn một thế kỷ tồn tại, Đờn ca tài tử đã trở thành một phần của đời sống văn hóa, phản ánh tâm tư, tình cảm và bản sắc của nhiều thế hệ người dân phương Nam.

 Hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, Đờn ca tài tử Nam Bộ đã trở thành một biểu tượng văn hóa của vùng đất phương Nam.

Từ tiếng lòng của người mở cõi

Theo các tài liệu ghi chép lại, Đờn ca tài tử Nam Bộ ra đời vào cuối thế kỷ XIX trong bối cảnh vùng đất phương Nam đang phát triển mạnh mẽ sau quá trình khai phá. Đây là loại hình âm nhạc kế thừa tinh hoa của nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế, ca Huế và văn học dân gian, đồng thời tiếp nhận, dung hòa những ảnh hưởng từ âm nhạc của cộng đồng Khmer, Hoa và cả phương Tây.

Nếu Nhã nhạc cung đình mang vẻ uy nghi, chuẩn mực thì Đờn ca tài tử lại gần gũi, mộc mạc và giàu tính ngẫu hứng. Đó là âm nhạc của người dân lao động, của những người nông dân sau buổi làm đồng, của những cuộc gặp gỡ bạn bè, xóm giềng trong không gian miệt vườn, bến sông hay dưới mái nhà tranh đơn sơ.

Chữ “tài tử” không mang nghĩa nghệ sĩ chuyên nghiệp mà chỉ những người yêu nhạc, có năng khiếu, đam mê nghệ thuật. Họ đến với nhau vì sự đồng điệu trong tâm hồn, cùng đàn, cùng ca để sẻ chia niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Chính tinh thần ấy đã tạo nên nét đẹp độc đáo của Đờn ca tài tử – một loại hình nghệ thuật dân gian nhưng mang trình độ bác học, vừa gần gũi vừa tinh tế.

Ban đầu, dàn nhạc tài tử gồm bốn nhạc cụ chính là đàn Kìm, đàn Cò, đàn Tranh và Độc huyền cầm, được gọi là “tứ tuyệt”. Sau này, cùng với quá trình giao lưu văn hóa Đông Tây, có cách tân bằng cách thay thế Độc huyền cầm bằng ghita phím lõm.

Biểu diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ trong chương trình “Trên bến dưới thuyền” tại TP.HCM.

Sức sống của Đờn ca tài tử không chỉ nằm ở âm nhạc mà còn ở khả năng thích ứng và sáng tạo không ngừng. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, nhiều nhóm tài tử nổi tiếng đã xuất hiện ở khắp Nam Bộ như nhóm cổ nhạc miền Đông do nhạc sư Nguyễn Quang Đại làm trưởng nhóm; nhóm cổ nhạc miền Tây của Trần Quan Qườn; nhóm Bạc Liêu do Nhạc Khị phụ trách; Ban nhạc tài tử Mỹ Tho của Nguyễn Tống Triều...

Chính sự giao lưu, thi tài và sáng tác của các nghệ nhân đã làm phong phú kho tàng bài bản tài tử với nhiều hơi, điệu khác nhau. Hàng trăm bản lớn nhỏ ra đời, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân vùng sông nước.

Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Đờn ca tài tử là sự xuất hiện của hình thức Ca ra bộ, tiền thân của sân khấu cải lương. Từ những buổi vừa đờn vừa ca, người nghệ sĩ bắt đầu hóa thân vào nhân vật, biểu diễn có động tác, có diễn xuất. Đỉnh cao của quá trình phát triển ấy là sự ra đời của bản “Dạ cổ hoài lang” do nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1890-1976) sáng tác năm 1919.

“Dạ cổ hoài lang” được xem là cột mốc lớn của âm nhạc Nam Bộ. Từ bản vọng cổ nhịp đôi ban đầu, qua nhiều lần phát triển thành nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16 rồi nhịp 32 như ngày nay, vọng cổ trở thành linh hồn của Đờn ca tài tử và sân khấu cải lương.

Hầu như bất cứ buổi sinh hoạt Đờn ca tài tử hay vở cải lương nào cũng đều có sự hiện diện của vọng cổ. Với khả năng dung nạp các hơi Xuân, Ai, Bắc, Oán cùng nhiều làn điệu dân gian như hò, lý, vè..., vọng cổ được ví như “ông vua” của âm nhạc tài tử.

Nếu trước đây Đờn ca tài tử chủ yếu hiện diện trong các buổi sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn thì ngày nay loại hình nghệ thuật này đã bước vào không gian đô thị hiện đại.

Tại TP.HCM và nhiều tỉnh, thành Nam Bộ, các câu lạc bộ Đờn ca tài tử vẫn hoạt động thường xuyên. Những tiếng đàn, câu ca vang lên trong các lễ hội văn hóa, trường học, trung tâm văn hóa, khu du lịch sinh thái, phố đi bộ hay các sự kiện quảng bá du lịch.

Đờn ca tài tử đã trở thành cầu nối văn hóa giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế. Đối với nhiều du khách nước ngoài, những giai điệu tài tử là trải nghiệm đặc biệt để hiểu hơn về tâm hồn, tính cách và bản sắc văn hóa của người Nam Bộ.

Ứng xử thế nào với “20 bản tổ” và những bản nhạc khác?

Điều đáng quý là dù ở nông thôn hay thành thị, trong không gian truyền thống hay hiện đại, Đờn ca tài tử vẫn giữ được cốt cách vốn có: tính cộng đồng, tính ngẫu hứng và sự giao hòa giữa người diễn với người thưởng thức.

Sau khi được UNESCO ghi danh (Kỳ họp thứ 8 của Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Bakn tháng 12-2013), bên cạnh là niềm vinh dự lớn nhưng cũng đặt ra trách nhiệm nặng nề trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Theo TS Mai Mỹ Duyên, giảng viên Trường Đại học Trà Vinh, qua nhiều cuộc khảo sát thực tế tại các tỉnh Nam Bộ, bà cùng các cộng sự đã nhận ra nhiều vấn đề đáng quan ngại trong thực hành truyền dạy Đờn ca tài tử hiện nay.

Theo bà, tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ của một nghệ nhân là sự am hiểu và thực hành thành thạo 20 bản Tổ. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy không ít nghệ nhân trực tiếp truyền dạy chưa thực sự nắm vững toàn bộ 20 bản này.

Biểu diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ trong không gian Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh TP.HCM.

Nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía. Có nghệ nhân chưa đạt trình độ chuyên môn cần thiết; có người từng biết nhưng lâu ngày không có điều kiện biểu diễn nên mai một; cũng có trường hợp người học không đủ thời gian, điều kiện hoặc nhu cầu để học đầy đủ.

Thực tế cho thấy nhiều học viên cho biết mình đã học đủ 20 bản Tổ, nhưng khi được yêu cầu trình diễn trọn vẹn một bản hoặc một lớp nhạc bất kỳ thì đa số không thực hiện được. Điều này cho thấy nguy cơ thất truyền 20 bản Tổ - nền tảng cốt lõi của Đờn ca tài tử - là hoàn toàn có thật.

Một thực trạng khác cũng khiến giới nghiên cứu trăn trở là từ sau khi Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO ghi danh thì các hội thi, liên hoan ở nhiều tỉnh, thành đều chỉ tập trung bảo tồn và phát huy 20 bản Tổ. Điều này dẫn đến hàng trăm bản nhạc “lớn nhỏ” của Đờn ca tài tử và nhạc Cải lương (xuất phát từ Đờn ca tài tử) đang có nguy cơ mai một do không được sử dụng và truyền dạy. 

Theo TS Mai Mỹ Duyên, trong lịch sử hình thành và phát triển Đờn ca tài tử và Cải lương Nam bộ, các nghệ nhân, nghệ sĩ tiền bối đã sáng tạo nhiều bản nhạc hay được yêu chuộng. Đó là những tác phẩm như Tây Thi Quảng, Khúc hận Nam Quan, Bình Sa lạc nhạn, Thanh dạ đề quyên, Thu Phong, Liêu Giang, Ngự giá đăng lâu, Ái tử kê, Minh Hoàng thưởng nguyệt, Phong suy trịch liễu, Yến Tước tranh ngôn... cùng nhiều sáng tác sau năm 1975 của các nhạc sĩ Văn Giỏi, Thanh Hải, Đức Huệ và nhiều nghệ nhân khác.

Đây là những minh chứng sinh động cho sức sáng tạo phong phú của Đờn ca tài tử, góp phần làm giàu kho tàng âm nhạc truyền thống Nam Bộ. Nếu không được đưa trở lại đời sống biểu diễn, truyền dạy và các cuộc liên hoan, những tác phẩm quý ấy rất có thể sẽ biến mất cùng với các nghệ nhân cao tuổi.

Cần một chiến lược bảo tồn dài hơi

Theo nhiều chuyên gia, bảo tồn Đờn ca tài tử không chỉ là giữ gìn những bài bản cổ mà còn phải tạo môi trường để di sản tiếp tục sống trong cộng đồng.

Nhạc sĩ Phan Nhứt Dũng, Trường ĐH Sân khấu – Điện ảnh TP.HCM cho rằng, hoạt động Đờn ca tài tử hiện nay chưa tạo được hiệu quả kinh tế để nghệ nhân có thể sống bằng nghề. Thiếu sân khấu biểu diễn thường xuyên, thiếu nguồn thu nhập ổn định khiến nhiều người trẻ khó gắn bó lâu dài.

TS Lê Hồng Phước, Trường ĐH KHXHNV (ĐH Quốc gia TP.HCM) đề xuất đưa Đờn ca tài tử và Cải lương vào các sản phẩm du lịch văn hóa, tổ chức biểu diễn định kỳ, thường xuyên hơn nữa tại Đường sách Nguyễn Văn Bình, phố đi bộ Nguyễn Huệ và các không gian công cộng của TP.HCM… 

Biểu diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ phục vụ người dân và du khách tại phố đi bộ Nguyễn Huệ.

Chuyên gia cũng nhận định, việc tổ chức các liên hoan Đờn ca tài tử không chỉ để tranh tài, tôn vinh, mà cần tạo không khí lễ hội để mọi người gặp nhau giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Cũng qua liên hoan, có thể phát hiện thêm những nhân tố mới kế thừa Đờn ca tài tử để kịp thời hỗ trợ đào tạo. Giới nghiên cứu cũng kiến nghị sớm tổ chức các hội thảo chuyên môn nhằm thống nhất lòng bản, tránh tình trạng “tam sao thất bản” trong truyền dạy; đồng thời biên soạn giáo trình chung để các địa phương cùng áp dụng.

Di sản chỉ thực sự sống khi còn được cộng đồng thực hành, trao truyền và sáng tạo. Vì vậy, bảo tồn Đờn ca tài tử không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hóa hay của các nghệ nhân, mà cần sự chung tay của cả xã hội.

Khi những câu vọng cổ, bài bản tài tử vẫn còn ngân vang trên dòng sông, khi tiếng đờn vẫn còn cất lên trong mỗi lễ hội, trường học, khu phố hay điểm du lịch, thì hồn cốt của vùng đất phương Nam vẫn sẽ tiếp tục được gìn giữ.

Bài và ảnh: THÙY TRANG