Bà Nguyễn Thị Lệ đọc lại bức thư (trong số 5 bức) Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên
gửi về cho bà ngày ông còn đang ở chiến khu (nguồn: Vietnamnet).
Từ “mệnh lệnh trái tim” trong thơ Simonov...
Khi Simonov viết Đợi anh về, ông đang ở giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết ngoài mặt trận tàn khốc. Bài thơ vang lên như một điệp khúc vừa da diết, vừa đanh thép, lặp đi lặp lại một mệnh lệnh vô điều kiện dành cho người phụ nữ ở quê nhà:
“Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có dài lê thê/ Em ơi em, cứ đợi!/ ...Dù bạn viếng hồn anh/ Yên nghỉ nấm mồ xanh/ Nâng chén tình dốc cạn/ Thì em ơi, mặc bạn/ Đợi anh hoài, em nghe!”
Trong thế giới quan của Simonov, sự chờ đợi không phải là trạng thái thụ động, cam chịu. Đó là một thứ quyền năng tinh thần mạnh mẽ, một cuộc chiến đấu thầm lặng nhưng sòng phẳng với thời gian, với định kiến, và thậm chí với cả cái chết. Nhà thơ Nga khẳng định, người lính sống sót giữa bom đạn không phải do may mắn ngẫu nhiên, mà vì họ có một hậu phương kiên cường tuyệt đối – người duy nhất không bao giờ từ bỏ hy vọng. Sự thủy chung ấy đã tạo ra một lực đẩy tâm linh, bảo vệ người lính trước hòn tên mũi đạn.
...Đến “huyền thoại sống” bên bờ sông Vàm Cỏ
Năm 1968, đúng vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ, câu chuyện của cô giao liên Nguyễn Thị Lệ và người chiến sĩ trẻ Huỳnh Văn Quên đã bắt đầu đúng như những gì Simonov từng mường tượng. Trước giờ xuất kích vào trận địa nội đô Sài Gòn, bên bờ sông Vàm Cỏ, anh Quên chỉ kịp để lại một lời hẹn mộc mạc: “Sau trận đánh này, nếu anh về, tụi mình làm đám cưới”. Cô gái Lệ khẽ gật đầu, gói ghém lời hứa ấy vào tim như một báu vật đời người.
Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, rồi hàng thập kỷ trôi qua, người chiến sĩ ấy vẫn bặt vô âm tín. Năm 1977, giấy báo tử gửi về, người ta bảo anh đã hy sinh, thân xác hòa vào đất mẹ. Bạn bè, người thân đã “nâng chén tình dốc cạn”, khuyên bà tìm hạnh phúc mới. Đã có tới 5 gia đình mang trầu cau đến dạm hỏi người phụ nữ tảo tần, mong bù đắp cho bà một danh phận.
Nhưng giống như câu thơ “Thì em ơi, mặc bạn / Đợi anh hoài, em nghe”, bà Lệ đã khước từ tất cả. Không biết chữ, nhớ người yêu, bà nhờ người viết mẫu rồi cặm cụi đồ theo dưới ánh đèn dầu. Hết trang giấy này đến trang giấy khác, bà chỉ viết đúng một chữ duy nhất: “Quên”. Người yêu tên Quên, nhưng bà viết để nhớ, để khắc cốt ghi tâm. Bà tự nguyện tìm đến nhà cha mẹ anh, quỳ xuống xin nhận làm dâu cả, chịu tang phụng dưỡng song thân như một người vợ chính thức. Đôi bông tai cưới mẹ anh trao muộn màng trở thành tín vật duy nhất gắn kết bà với một cuộc tình dang dở.
Suốt 58 năm, nếp nhăn xô lệch trên gương mặt, mái tóc xanh hóa bạc phơ, người con gái tuổi đôi mươi ngày nào đã trở thành một bà lão tóc trắng như cước, nhưng lời hứa bên bờ sông Vàm Cỏ thì chưa một ngày phai nhạt. Sự chờ đợi của bà không còn là câu chuyện cá nhân, nó đã hóa đá thành tượng đài Vọng Phu của thời đại mới.
Đại diện UBND xã Vàm Cỏ và những người thân trực hệ của Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên
trong buổi họp đề nghị công nhận bà Nguyễn Thị Lệ là vợ Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên (nguồn: Zing.vn)
| Công nhận bà Nguyễn Thị Lệ là vợ Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên Ngày 18-7-2026, Chủ tịch UBND xã Vàm Cỏ (tỉnh Tây Ninh) cho biết: Địa phương đã họp với thân tộc của Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên gồm 6 người thân trực hệ với liệt sĩ và tất cả đã thống nhất cao, cùng ký vào văn bản đồng thuận phối hợp với chính quyền địa phương lập hồ sơ đề nghị công nhận bà Nguyễn Thị Lệ là vợ của Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên. Ngay sau khi hoàn tất các thủ tục, UBND xã Vàm Cỏ đã chuyển Hồ sơ đề nghị lên các cấp có thẩm quyền của tỉnh Tây Ninh. Đến chiều cùng ngày, Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh đã ban hành quyết định về việc công nhận bà Nguyễn Thị Lệ (79 tuổi, ấp 3, xã Vàm Cỏ) là vợ của Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và được hưởng các chế độ theo quy định từ ngày 01-8-2026. |
Để rồi, một phép màu có thật đã xảy ra vào nửa thế kỷ sau. Giữa lòng đất sâu tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng (TP.HCM), hài cốt của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên cùng di vật khắc tên anh đã được tìm thấy. Khổ thơ cuối cùng của Simonov vang lên như một sự trùng khớp kỳ diệu đến rùng mình:
“Vì sao anh chẳng chết/ Nào bao giờ ai biết?/ Có gì đâu em ơi/ Chỉ vì không ai người/ Biết như em chờ đợi”.
Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên không thể trở về bằng xương bằng thịt để dắt tay bà vào lễ đường, nhưng anh đã “về” theo một cách bất tử nhất. Anh trở về như thể anh đã biết ở trần gian này, suốt gần 60 năm qua, chưa một giây phút nào người con gái ấy thôi ngóng đợi. Sự thủy chung sắt son của bà Lệ chính là ngọn hải đăng xé toang bóng tối của thời gian và cát bụi, gọi anh tìm đường về với đất mẹ, về với người vợ không bao giờ cưới của đời mình. Khoảnh khắc bà Lệ đứng trước di cốt của anh, thầm thì: “Tui chịu cưới rồi, ông về nhé!” đã trở thành một trong những hình ảnh xúc động và thiêng liêng nhất của lịch sử hậu phương Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Lệ (khoác khăn rằn) và người thân đến thắp hương tại công viên Lê Thị Riêng (nguồn: Dân Trí)
Di sản trường tồn của hậu phương Việt Nam
Từ góc nhìn văn học của Simonov đến cuộc đời thực của bà Nguyễn Thị Lệ, chúng ta nhìn thấy một di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam: Di sản của những người phụ nữ xây nền hậu phương.
Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nếu tiền tuyến là nơi thử thách lòng dũng cảm của người lính bằng máu và lửa, thì hậu phương là nơi thử thách sự kiên trinh của người phụ nữ bằng thời gian và sự cô độc. Người phụ nữ Việt Nam không chỉ gánh vác việc đồng áng, nuôi dạy con thơ, phụng dưỡng cha mẹ già để người đàn ông yên tâm vững tay súng, mà họ còn giữ lửa cho niềm tin chiến thắng.
Sự thủy chung của họ không phải là sự yếu đuối, lụy tình, mà là một thứ bản lĩnh văn hóa. Họ biến nỗi đau chia ly thành sức mạnh lao động, biến sự lo âu thành lời cầu nguyện, và biến lời hứa thành lẽ sống. Chính sự vững chắc, kiên cường của hậu phương đã nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu cho tiền tuyến, tạo nên sức mạnh tổng hợp để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi cuộc trường chinh vĩ đại.
Bài thơ của Simonov kết thúc bằng một nốt nhạc khải hoàn của niềm tin, và cuộc đời của bà Nguyễn Thị Lệ cũng đã khép lại bằng một cái kết trọn vẹn của nghĩa tình. Di sản mà những người phụ nữ như bà Lệ để lại cho thế hệ mai sau không chỉ là câu chuyện về một tình yêu chung thủy, mà là bài học sâu sắc về giá trị của lòng biết ơn và sự tử tế.
Thời gian có thể làm phai mờ những chiến tích, cát bụi có thể vùi lấp những công trình, nhưng lòng thủy chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam - những người đã hiến dâng cả thanh xuân để đợi chờ và gìn giữ non sông - sẽ mãi là một giá trị trường tồn, một vẻ đẹp bất tận đi cùng lịch sử dân tộc.
Nguyễn Đức Hiếu