1. Trong bài tựa cho Truyện Kiều viết năm 1820, Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân Nguyễn Đăng Tuyển đã hạ bút như thần khi nói thi hào Nguyễn Du “con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”. Thật vậy, đối với “sáu cõi” hay “lục đạo luân hồi”, tấm lòng nhân đạo bao la của Nguyễn Du không chỉ dành cho những kiếp người bất hạnh mà còn nghĩ cho cả cô hồn ngạ quỷ, súc sinh. Bởi đó, ông viết về loài vật bằng tình yêu thương rộng lớn. Những vần thơ về ngựa của thi hào thể hiện rõ điều này.
Tượng Nguyễn Du tại Khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du ở Hà Tĩnh
2. Trong thơ Nguyễn Du, không khó để nhận ra nhà thơ dành cho loài ngựa một tình cảm rất đặc biệt. Ngoại trừ một đôi lần sử dụng hình ảnh con ngựa như một ước lệ có tính truyền thống để nói thay cho một hiện tượng tiêu cực trong xã hội con người (Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi - Truyện Kiều), hoặc nhắc đến ngựa như một đối tượng khách quan (Vực ngay lên ngựa tức thì; Sắm sanh xe ngựa vội vàng - Truyện Kiều), đại đa số các trường hợp còn lại Nguyễn Du đều miêu tả khá cụ thể và dành cho loài ngựa sự yêu mến, cảm thương sâu sắc. Ngựa là một trong những loài vật gắn bó nhất với nhà thơ trong những bước đường mươi năm gió bụi, những chuyến đi công cán qua nhiều địa phương trong nước cũng như trên bước đường hoàng hoa sứ trình lên phương Bắc những năm 1813 - 1814. Nguyễn Du còn nhìn thấy bóng dáng cuộc đời và con người chính mình qua hình ảnh loài ngựa. Có lẽ vì điều này mà con ngựa trong cách nhìn nhận của Tố Như luôn gắn liền với những tình cảm tốt đẹp, thấm đẫm tinh thần nhân đạo sâu xa…
Tranh vẽ Truyện Kiều lần đầu tiên công bố vào tháng 1-2026 của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm
2.1. Nếu không phải là người yêu ngựa thì Nguyễn Du không thể viết được những câu thơ về ngựa hay bậc nhất trong nền thơ ca nước ta thời trung đại, ví như hình ảnh chú ngựa bạch lộng lẫy của chàng Kim Trọng giữa mùa xuân trong buổi Kim Kiều hội ngộ: Tuyết in sắc ngựa câu giòn/ Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời (Truyện Kiều); hay như hình ảnh con ngựa ăn cỏ mục túc giữa cảnh mùa thu thật quý phái trong bài Đại nhân hí bút: Mục túc thu kiêu kim lặc mã (Ngựa mang dàm vàng kiêu hãnh ăn cỏ mục túc mùa thu). Cũng trong Truyện Kiều, còn có những câu thơ về ngựa đầy ấn tượng, chẳng hạn: Dập dìu tài tử giai nhân/ Ngựa xe như nước, áo quần như nêm; Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san; Trông vời trời bể mêng mang/ Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong…
2.2. Tuy nhiên, cũng như nhiều loại động vật khác, ngựa trong các sáng tác của Nguyễn Du thường gắn liền với cảm hứng hiện thực. Bên cạnh hình ảnh những chú ngựa với vẻ đẹp đậm chất lãng mạn, nhà thơ còn hướng sự quan tâm đến những con ngựa bất hạnh trong cuộc đời. Đó là những con ngựa đói mệt, những con ngựa già bị bỏ rơi, những con ngựa tan lạc trong binh đao khói lửa mà nhà thơ bắt gặp trên những bước đường cuộc đời, nhất là những ngày rong ruổi nơi đất Bắc trên sứ trình thăm thẳm đến Bắc Kinh.
Trong bài Tín Dương tức sự làm trên đường đi sứ tại Trung Hoa, chứng kiến nạn đói khủng khiếp, nhà thơ xót xa trước cảnh tượng người dân phải ăn cơm độn cám và thương cả con ngựa cứ mãi hí đòi ăn vì phải nhịn đói lâu ngày: Mã minh tư tự mạt/ Dân thực bán bỉ khang (Ngựa hí đòi rơm thóc/ Dân ăn cơm độn cám đến nửa phần). Trên đường qua Hà Nam đang gặp cảnh hạn hán, nhà thơ xót lòng khi nghe một tiếng ngựa hí dài vì mỏi mệt: Nhân hành liệt nhật trung/ Đồ trường tê quyện mã (Người đi trong nắng gắt/ Đường xa ngựa mỏi hí dài, bài Hà Nam đạo trung khốc thử).
... khắc lậu, canh tàn,
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.
Lối mòn cỏ nhợt mùi sương
Tranh của Trần Văn Cẩn
2.3. Nguyễn Du còn có một bài thơ hết sức quan trọng về ngựa, nhưng không phải những chú ngựa dũng mãnh, kiêu hùng mà là con ngựa già yếu bị ruồng bỏ dưới chân thành. Đó là bài Thành hạ khí mã trong tập Nam trung tạp ngâm viết khi tác giả đang làm quan tại Quảng Bình. Mở đầu tác phẩm, nhà thơ bày tỏ nỗi lòng xót xa khi bắt gặp hình ảnh con ngựa già gầy ốm không biết bị ai vứt bỏ đang vất vưởng dưới chân thành: Thùy gia lão mã khí thành âm/ Mao ám bì can sấu bất câm (Ngựa già nhà ai bỏ dưới bóng thành/ Lông nám da khô gầy không thể tả). Tuy nhiên, điều khiến thi nhân cảm phục ở con ngựa già này chính là khí khái không đổi của một chiến mã từng xông xa trận mạc, báo đền ơn nước: Cơ lai bất tác cầu nhân thái/ Lão khứ chung hòai báo quốc tâm (Đói vẫn không cần học thói cầu cạnh người/ Già nhưng vẫn ôm giữ tấm lòng báo quốc). Đặc biệt, Nguyễn Du còn nhìn thấy ở lão chiến mã ấy hình ảnh của mình. Bởi đó, nhà thơ kết thúc tác phẩm bằng lời nhắn gửi đầy trân trọng cho chú ngựa cũng như cho chính mình về việc giữ lấy thiên chân và sự tự do: Nại đắc phong sương toàn nhĩ tính/ Mạc giao ki trập tái tương xâm (Chịu đương phong sương, giữ trọn thiên tính/ Chớ để cương dàm phạm vào thân lần nữa). Có thể nói, viết về những con ngựa đói, già, gầy ốm, bị ruồng bỏ đã không nhiều, cảm thương và khâm phục những đức tính hơn đời ở những con ngựa bị lãng quên ấy như Nguyễn Du lại càng ít người làm được. Thành hạ khí mã có thể xem là một trong những bài thơ cảm động và sâu sắc bậc nhất về ngựa trong thơ ca trung đại Việt Nam.
3. Người ta sẽ còn phải nói nhiều về chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm của Nguyễn Du. Nhưng chỉ riêng tấm lòng của thi nhân đối với loài vật, trong đó có loài ngựa, đủ cho thấy phần nào biên độ rộng lớn của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du. Bởi đó, nhắc đến loài ngựa trong sáng tác của nhà thơ, người ta không chỉ nghĩ đến những chú ngựa oai phong, lộng lẫy. Độc giả sẽ còn nhớ mãi về hình ảnh những con ngựa bất hạnh được thể hiện bằng niệm xót thương và cảm phục chân thành trong thơ Nguyễn Du.
ThS PHẠM TUẤN VŨ
Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam