“Di Địch là mối lo của miền biên giới, từ xưa đã thế. Như Hung Nô nhà Hán, Đột Quyết nhà Đường, Mường Lễ ở phía tây nước Việt ta là các rợ Man. Trong khoảng thời gian nhà Trần Hồ suy vi, các phiên thần cứng đầu hung dữ, Cát Hãn quen thói cũ, tự phụ ngoan cố [cần phải] trừ dẹp. Nay ta xuất quân cùng đạo thủy bộ, đánh một trận mà đã dẹp yên. Nhân đó viết thơ khắc vào đá, để răn hậu thế Man tù ương ngạnh, khó giáo hóa. Nên đề thơ rằng:
“Giặc cuồng há thoát tội chết,
Dân biên viễn đã lâu mong được hồi sinh.
Bọn phản thần từ xưa đã có,
Vùng đất hiểm nay chẳng còn.
Cây cỏ làm kinh giấc hạc,
Sông núi đã nhập vào bản đồ”.
Đề thơ nơi vách đá cao để trấn giữ phía tây của nước Việt.
Ngày tốt tháng quý đông (tháng 12) năm Tân Hợi (1431).
Ngọc Hoa động chủ đề thơ”(1).
Tấm bia ma nhai này không chỉ ghi nhận cuộc bình định của Vua Lê Thái Tổ mà còn khẳng định tuyên ngôn mọi vùng đất thuộc cương vực Đại Việt, dù xa xôi hay hiểm trở, đều là bộ phận không thể tách rời của quốc gia:“Sông núi đã nhập vào bản đồ”. Bài thơ còn mang dụng ý sâu sắc trong việc cảnh báo, răn đe các thế lực chống đối tiềm ẩn tại khu vực phía Tây của nước Việt, khẳng định rằng mọi hành vi nổi dậy, nhiễu loạn biên cương đều sẽ bị trấn áp.
Trải qua khoảng sáu thế kỷ giữa mưa nắng của núi rừng Tây Bắc, tấm bia dường như bị ẩn giấu giữa thiên nhiên hoang sơ rồi được phát hiện, mở ra một hành trình về sự hồi sinh ký ức lịch sử. Từ một dấu tích từng bị lãng quên, tấm bia trở thành đối tượng được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị, từng bước chuyển hóa thành một di sản gắn liền với đời sống văn hóa của cộng đồng đương đại.
Trong câu chuyện di sản hóa tấm bia của Vua Lê Thái Tổ này, cuộc di dời khỏi khu vực lòng hồ thủy điện bằng phương pháp khoan cắt núi đá không chỉ là một kỹ thuật bảo tồn nhằm bảo vệ hiện vật trước biến đổi của không gian, mà còn trở thành câu chuyện giàu tính sử thi về khát vọng gìn giữ di sản. Khi tách ra khỏi vách núi, bia Lê Thái Tổ được giữ lại trên một tảng đá trầm tích nguyên khối đồ sộ với kích thước dài 2,62m, rộng 1,13m, cao 1,85m và có trọng lượng trên 15 tấn. Tấm bia được bảo tồn nguyên vẹn phần bút tích, đồng thời được di chuyển an toàn đến không gian bảo tồn mới, đáp ứng tính xác thực và toàn vẹn của di sản.
Mặt bên trái bia vua Lê Thái Tổ
Mặt bên phải bia vua Lê Thái Tổ
Trong quá trình di dời tới địa điểm mới, một đỉnh núi giữa cảnh sắc đại ngàn hòa cùng dòng sông Đà hùng vĩ được lựa chọn để đặt bia. Tại đây, một ngôi đền nhỏ, mộc mạc được dựng lên như một điểm tựa tinh thần tiếp tục lưu giữ ký ức.
Hiện nay, tấm bia trở nên đặc biệt ấn tượng về mặt tạo hình bởi sự tương phản giữa hình thái tự nhiên của đá và phần bề mặt nhân tạo được xử lý để khắc văn bản. Toàn bộ phần thân và viền bao quanh bia vẫn giữ nguyên dấu tích của khối đá gốc với bề mặt sần nhám, mang vẻ nguyên sơ, phản ánh quá trình bào mòn của tự nhiên qua thời gian. Đối lập với vẻ nguyên sơ tự nhiên ấy là bề mặt gia công nhân tạo nằm trang trọng ở vị trí trung tâm, nổi bật trên nền đá thô mộc, gồ ghề.
Không chỉ thế, tấm bia Vua Lê Thái Tổ và không gian đền giờ đây được tỉnh Lai Châu chủ trương đưa vào đời sống của cộng đồng địa phương, là nơi hội tụ văn hóa, thực hành tín ngưỡng và tổ chức lễ hội hằng năm.
Ngôi đền thờ Vua Lê Thái Tổ và nhà bia.
Lễ hội đền thờ Vua Lê Thái Tổ được tổ chức trong ba ngày từ ngày 11 đến 13 tháng Giêng âm lịch hằng năm, với nhiều nghi lễ truyền thống như lễ rước vọng, rước kiệu nhằm tái hiện quá khứ hào hùng, ôn lại công lao của Vua Lê Lợi trong sự nghiệp dựng nước và bảo vệ biên cương. Bên cạnh phần lễ trang nghiêm, phần hội diễn ra sôi nổi với các chương trình nghệ thuật, vòng xòe đoàn kết cùng nhiều hoạt động thể thao dân tộc như tù lu, đẩy gậy, bắn nỏ, kéo co và đua thuyền đuôi én…
Có thể nói, tấm bia Vua Lê Thái Tổ là một minh chứng tiêu biểu cho quá trình kiến tạo di sản của tỉnh Lai Châu, từ một dấu tích lịch sử dường như bị lãng quên đến kết quả được ghi danh vào danh mục Bảo vật Quốc gia (tại Quyết định số 2496/QĐ-TTg ngày 22-12-2016). Di sản này giờ đây đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Lai Châu nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung.
Ngôi đền thờ Vua Lê Thái Tổ trên đỉnh núi, hướng mặt ra sông Đà.
Bia Vua Lê Thái Tổ còn là một tài nguyên du lịch di sản bởi bảo vật này ngoài việc đã có những tính chất của một di sản thực sự còn hội tụ đầy đủ bốn lớp cấu trúc của một sản phẩm du lịch: lõi, thuận lợi, hỗ trợ và gia tăng. Trong đó lớp cấu trúc lõi là ý nghĩa và giá trị thực của tấm bia như đã nêu trên. Lớp cấu trúc thuận lợi được thể hiện qua vị trí đặc biệt của di tích giữa không gian núi rừng hùng vĩ, những dãy núi trùng điệp, dòng sông Đà xanh mát cùng cung đường tiếp cận giàu trải nghiệm. Lớp cấu trúc hỗ trợ bao gồm các dịch vụ lưu trú, ẩm thực, mua sắm và các tiện ích phục vụ du khách, tuy còn đang trong quá trình phát triển, nhưng cơ bản vẫn đáp ứng được nhu cầu du lịch, đồng thời còn nhiều dư địa để mở rộng khi lượng khách gia tăng. Đặc biệt, câu chuyện gắn với vị Vua khai triều Lê Sơ và quá trình di sản hóa ở thời đại ngày nay cũng là yếu tố khác biệt, dễ dàng tạo nên thương hiệu và những câu chuyện khó quên đối với du khách. Đây chính là cấu trúc gia tăng, giúp cho di sản có những tính chất thu hút, gắn kết cộng đồng mạnh mẽ.
-------------------------
1. Theo bản dịch của ThS. Nguyễn Kim Măng (2009), đăng trên Tạp chí Hán Nôm, số 2(93), trang 76-79.
Bài và ảnh: KTS Trần Trung Hiếu