Từ trên xuống: Ba số báo xuất bản vào các ngày 01-8-1941; 01-01-1942; 20-10-1943.
Hiện nay trong kho của Bảo tàng Lịch sử quốc gia đang lưu giữ 123 số báo gốc xuất bản từ ngày 1-8-1941 đến ngày 15-12-1945 và ba số họa bản ra vào các ngày 21-9-1943; 23-6-1945 và tháng 7-1945. Mỗi họa bản có từ 5 đến 8 bức ký họa nói về nỗi cùng cực của người dân mất nước và kêu gọi nhân dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật. Đặc biệt, bức họa bản phát hành vào tháng 7 năm 1945 có 8 bức ký họa hướng dẫn người dân cách thức cứu phi công đồng minh Mỹ khi máy bay bị phát xít Nhật bắn rơi xuống vùng giải phóng. Báo Việt Nam Độc lập có 2 trang, khổ 20 x 30 cm; Mỗi tháng ra 3 kỳ, mỗi kỳ khoảng 400 số; Nội dung được đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau: Chính trị, quân sự, y tế, văn hoá, lịch sử… Trên tất cả các số báo đều có mục: Tin trong nước, Tin thế giới, Vườn văn. Nội dung báo đã cung cấp cho người đọc nhiều thông tin bổ ích, mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết cho đồng bào, đặc biệt là đồng bào vùng dân tộc thiểu số. Trong nội dung của báo có một vấn đề thường xuyên được Bác Hồ và các cộng sự của Người đề cập đến, đó là vấn đề xây dựng con người mới.
| Tám mươi lăm năm đã trôi qua (1941-2026), kể từ khi báo Việt Nam Độc lập ra mắt bạn đọc số đầu tiên, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam mới vẫn còn nguyên giá trị và hoàn toàn không hề lạc hậu khi chúng ta đang ở vào thế kỷ XXI. Với 123 số báo và 3 số họa bản, sưu tập Báo Việt Nam Độc lập là những di sản báo chí đặc biệt quý hiếm, nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu về giai đoạn cách mạng trước tháng 9 năm 1945. |
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trên báo Việt Nam Độc lập thì con người mới Việt Nam trước hết phải là những con người biết đoàn kết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, là những con người có quyền tự do, sống trong một nước độc lập và ấm no hạnh phúc. Với các bút danh khác nhau, Bác Hồ đã viết nhiều bài về chủ đề đoàn kết: đoàn kết toàn dân, đoàn kết gái trai, đoàn kết già trẻ, sang hèn, đoàn kết với những người đi lính cho Tây, làm việc với Tây, đoàn kết cũng không phải chỉ cần trong đấu tranh mà còn phải đoàn kết lâu dài, đoàn kết mãi. Ngay trên góc tờ số 3 ra ngày 21-8-1941 đã in câu thơ: Có Tổ quốc mới có ta; Nước là rất trọng, ta là rất khinh (khinh là xem nhẹ). Có thể nói rằng tư tưởng đoàn kết được xuyên suốt trên tất cả các số báo Việt Nam Độc lập. Ngoài ra, trên báo còn một yếu tố nữa liên quan đến con người mới Việt Nam, đó là con người được bình đẳng nam nữ, được quyền ngang nhau có học thức, có văn hoá, có tri thức lịch sử. Trên số 128 ra ngày 25-12-1942 tác giả B.V đã viết: “Ở các nước văn minh con giai con gái lớn lên được luyến ái tự do, hôn thú tự do, cha mẹ không nên ép duyên con. Bất kỳ giai gái đã là người cách mệnh thì việc gì cũng làm gương cho dân chúng”. Để khuyến khích và phát triển việc xoá nạn mù chữ, nâng cao trình độ văn hoá, báo đã đăng nhiều bài tuyên dương các địa phương có phong trào học chữ quốc ngữ. Đặc biệt trên số báo 231 ra ngày 30-10-1945, đã đăng bài Văn hoá, trong đó có đoạn: “Nhiệm vụ của cán bộ văn hoá là dìu dắt dân chúng lên con đường sáng của sự học. Đó là công việc khẩn cấp trong lúc này, vì trình độ văn hóa dân chúng có cao, thì nước mới mạnh. Nay chính phủ ra hạn trong một năm tất cả người Việt Nam phải biết chữ quốc ngữ”. Còn trên số báo 117 ra ngày 1-2-1942 có bài Nên học sử ta, sau khi điểm lại các tấm gương chống giặc ngoại xâm của tổ tiên, tác giả kết luận: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.
Trên một loạt các bài viết khác, với cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu, báo Việt Nam Độc lập đã hướng dẫn nhân dân khu căn cứ nhiều hoạt động phù hợp với đời sống mới: Cách ăn ở vệ sinh; Cách tổ chức các cuộc mít tinh; Cách cư xử với người nước ngoài; Cách đọc báo, giảng báo… Đây là những vấn đề mới lạ đối với đồng bào Tày, Nùng, Thổ, Dao trước năm 1945.
Các họa bản của báo "Việt Nam Độc lập"
Một vấn đề thường được đề cập nhiều trên báo Việt Nam Độc lập mang đậm tư tưởng Hồ Chí Minh về con người mới là việc biểu dương người tốt việc tốt trên báo. Có thể nói ngay từ tờ báo số 1 đến số báo cuối cùng, báo đều có mục ủng hộ báo, trong đó nêu tên người, tên địa phương hoặc tên đoàn thể đã gửi ủng hộ báo tiền, gạo, thuốc, giấy, có khi rất nhỏ như quả chanh, nải chuối cũng được nêu tên trên báo. Hàng chục số báo đã đăng các bài nêu gương tốt đáng khen của phụ nữ, thiếu nhi, thanh niên, du kích, cán bộ, các châu, các tổng. Trên báo Việt Nam Độc lập còn có một hình thức văn hoá mới mà cho đến nay vẫn còn áp dụng, đó là chúc Tết bằng các bài thơ. Trong số báo Tết năm 1943 có phụ đề Năm mới quyết làm cho nước mới; Non sông Hồng Lạc gấm thêu hoa.
Nhưng theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, không thể chỉ có khen, chỉ biểu dương, ca ngợi, mà còn phải phê phán và xóa bỏ cái xấu, cái lạc hậu và kiên quyết chống lại những gì trái với tinh thần, đạo đức, lối sống của người cách mạng. Trên Việt Nam Độc lập có nhiều bài do chính Bác Hồ viết, hoặc do người khác viết, nhưng mang đậm nét tư tưởng của Người về chống bệnh nói láo, chống việc làm lộ bí mật, chống bệnh sợ Tây... Đặc biệt, khi hình thành khu giải phóng và bước đầu xuất hiện hình thức Ủy ban Nhân dân, một kiểu chính quyền mới bên cạnh Việt Minh, đã xuất hiện một số cán bộ nhiễm căn bệnh quan liêu, xa rời dân, tham nhũng, thì trên nhiều số báo lập tức đã xuất hiện các bài lên án, cảnh cáo các ông quan cách mạng hống hách, ức hiếp, doạ nạt và ăn chặn của dân. Đồng thời kêu gọi các đoàn thể Việt Minh kiên quyết đấu tranh chống lại các tư tưởng phản cách mạng đó. Ngoài ra, trên báo còn có các mẩu tin, các bài viết ngắn mang rõ văn phong của Bác Hồ chia buồn với các đồng chí của mình khi có người thân qua đời, nhưng đều có tính hướng dẫn cách chia buồn mới: “Nhật Tây khi đã dẹp yên, trả xong nợ nước tức đền ơn cha”. Trong những năm tháng cam go của cách mạng thời kỳ 1941-1945, báo Việt Nam Độc lập đã giữ một vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền giác ngộ quần chúng nhân dân vùng Việt Bắc tham gia cách mạng, ủng hộ cách mạng, góp phần làm nên thắng lợi huy hoàng của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945.
(Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
ThS Triệu Hiển
UV BCH Hội Di sản Văn hóa Việt Nam