Chuyện làng chơi cổ ngoạn "Qúy vật tim quý nhân"

Con người dù có tốn công sức đến bao nhiêu cũng không dễ tìm được món đồ cổ quý. Thế nhưng, món đồ quý lại hay tìm đến quý nhân để ở lại, dù tạm thời hay lâu dài. Đó là câu cửa miệng của dân làng chơi cổ ngoạn mà chuyện dưới đây như một minh chứng cho câu nói mang ý nghĩa triết lý như một thành ngữ dân gian.

Đôi choé sứ vẽ men nhiều màu của Trung Quốc thế kỷ 19

Chuyện cách đây đã mẫy chục năm, nhưng những người có liên quan dường như vẫn còn và những cổ vật, ít nhiều vẫn hiện hữu.
Đến Bảo tàng Hải Dương, hiện còn thấy một chiếc bình gốm hoa nầu thời Trần vô cùng độc đáo và đặc sắc đang trưng bày. Đỏ là hiện vật được đội thủy lợi của xã Hiệp An, huyện Kinh Môn đào được mà bền trong đó đựng khả nhiều cổ vật quý hiếm vào khoảng những năm 80 của thể kỷ trước. Lo sợ và hoảng loạn tưởng như của "ma" cất dấu, những món đỗ nhanh chóng bị phát tán hoặc đập vỡ, khiến cho thông tin đến với cơ quan chuyên môn và
chức năng quá chậm, đến nỗi bảo tàng và công an tỉnh đến nơi thì dường như tất cả đã nằm trong nhà dân hoặc là những mảnh vỡ vương vãi trên bờ mương.
Điều tra hồi cố, công an tỉnh và bảo tàng tìm đến, vận động người dân, thu lại được một số, trong đó có chiếc bình hoa nâu nói trên. Tuy nhiên, đó cũng chưa phải là tất cả trong bộ sưu tập này.

Vài tháng sau, người bạn vong niên của tôi - một Đội trưởng Đội Chiếu bóng lưu động của tỉnh về xã chiếu phim. Vì là sếp, lại có chiếc xe máy DD màu đỏ vừa mua được, vốn thời ấy được coi là "tòa nhà bay", nên ông đi trước, đến một gia đình ở đầu làng để chờ chuyển xe bò chở thiến bị mày móc, ì ạch vượt qua đoạn đường vài cây số đầy ổ voi, kíp đến ( tối có thể phục vụ bà con ở sản kho, hợp tác xã.
Ngồi ở hiên, uống chè xanh ông hỏi gia chủ về chuyện số có vật của đội thủy lợi đào được. Chủ nhà là một trung niên, thuật lại câu chuyện  và anh bảo rằng, những cái gì là cổ vật đã được thu về tỉnh chỉ còn những cái mới để lại. Anh bạn tôi hỏi: - Mới là cái gì, để lại ở đâu? Chủ nhà trả lời: mới là những chiếc đĩa còn kêu như chuông và hoa lá vẽ ở trên còn nguyên si như vừa lấy ra khỏi lò. "Anh có thể cho tôi xem?" - người bạn tôi gặng hỏi. Chủ nhà gọi vợ từ nhà trong, kê ghế, với lên ban thờ. xếp nải chuối xanh ra ngoài và đưa bạn tôi xem chiếc đĩa sáng choang, đường kính khoảng 35 cm, vẽ sen vịt giữa lòng, hoa dây trên thành đĩa lợi chậu cắt khấc cánh hoa sen. Người bạn tôi lẩm bẩm: qủa là mới thật.
Thế nhưng, ngôi chờ lâu, tò mò hỏi kỹ, người đội trưởng đội chiếu phim lưu động cất lời: Anh nói là những chiếc đĩa mà ở nhà chỉ có một.
Người chủ nhà mách: cuối làng còn một chiếc đĩa màu xanh, đã bị sứt, nếu muốn, tôi dẫn bác đến xem.
Đi khoảng 1,5km, đên nơi, người cùng xóm trả lời rằng, chiếc đĩa ấy anh đã bán cho một người ở tỉnh vài ngày trước, giá hai trăm đồng (tương đương với nửa tháng lương công chức thời ấy). Anh còn miêu tả kỹ chiếc đĩa có màu xanh như ngọc, hoa văn khắc chìm hoa là dây.
Trở về ngôi nhà đầu làng, anh bạn vong niên của tôi quyết định hỏi mua chiếc đĩa. Bắt đầu cũng là hai trăm và cuối cùng chốt giá một tram rưỡi.
Anh bạn tôi gửi lại chủ nhà, kip ra sân kho chuẩn bị cho buổi chiêu phim. Khoảng 10 giờ đêm, phim kết thúc. Xã tổ chức chiêu đãi cháo gà.
Bạn tôi khước từ, trở về gia đình đầu xôm để đóng gói chiếc đĩa dây và nặng. Anh quyết định cởi quần dâi, cho chiếc đĩa vào đúng quần, buộc túm cạp và dùng hai ống quản lạnh dây treo trên cổ để đảm bảo an toàn cho chiếc đĩa. Trời mưa như trúc, đường lầy, chiếc đĩa nặng, to, đập liên hồi xuống đầu chiếc xe máy mới, khiến bạn tôi xót xa cho khối tài sản khổng lồ đang bị hành hạ bởi chiếc đĩa giá hơn trăm ngàn đồng này.

Sưu tập gốm men Việt Nam thế kỷ 14-15


Về tới nhà ở chợ Sặt, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Vợ ra đón trong nước mưa ướt sũng. Rét, nhưng chỉ được ăn một bát cơm rang. Cả đêm anh thức trắng nhìn ngắm tác phẩm, rồi phát hiện ra thêm, thành đĩa có hai chữ Hán, bó sen bên cạnh đàn vịt có thắt nơ, giữa lòng đĩa có một "mụn" nâu đỏ bằng hạt gạo, mà sau này, khi hồi cố, anh mới nhận ra, đó là vết ô-xít sắt của sói latarit trong đất, do quá trình ô xy hóa tạo thành. May mắn là, cả đêm, anh lấy đục đinh để tẩy đến tóe lửa mà "mụn" ây không đi. May thay, chiếc đĩa không vỡ Quả là sự ngu ngốc tới tột cùng - anh chia sẻ trong hồi cô chua xót.
Sáng hôm sau, anh sang Hà Nội, tìm đến một cụ già ở phố cổ xin gặp. Đó là một thợ buôn đồ xưa có máu mặt ở đất Hà thành, miêu thuật lại chiếc đĩa đang lưu giữ. Cụ bà bảo anh là "sạo" vì chiếc đĩa Hiệp An cu đã mua được rồi. Cụ dẫn anh vào phòng trong, xem chiếc đĩa và anh nhận ra, đó chính là chiếc đĩa của người cuối xóm bán cho một thương nhân ở tình mấy ngày trước, nay đã về tay cụ. Bà cụ buột miệng thốt lên: "Tôi mua nó với giá 7 cây vàng rồi đấy".
Bạn tôi mau miệng giải thích, chiếc đĩa của anh vẽ khác, men khác, kích thước lớn hơn nhiều.
Bà cụ cuốn vào chuyện, dẫn anh vào thư phòng lật dở từng trang sách chữ Trung Quốc, ảnh to và đẹp.
Cứ mối lần dở, cụ lại hỏi: "Giống cái nay không"?
Đâu đó, đến trang thứ 40, anh mới nhận ra, chiếc đĩa in trong sách khá giống cái của anh đang lưu giữ.
Mặt cụ sáng lên, mắt vui rạng rỡ, cụ giải thích cho anh, hai chữ trên thành miệng là "Xu phủ" - một chỉ dẫn quan trọng để nhận biết, đó là đồ cung đình, nội phủ. Còn sen - vịt là đề tài thường thấy trên đồ sứ xanh - trắng thời Nguyên - Minh của Trung Hoa. Bó sen có thắt nơ lại là một chỉ định khác, liên quan tới đẳng cấp cao của đồ sứ sản xuất lúc đương thời.
Hồi cố trong một bữa rượu cùng tôi và nhiều tay chơi khác, anh vỗ ngực tự hào rằng, hơn một tiếng đồng hồ tiếp xúc, anh học được ở bà cụ già gần 80 tuổi ấy hai điều: Thế nào là đồ sứ thời Nguyên cung đình, nội phủ mà bấy lâu chỉ nghe dân làng chơi đồn đại mà chưa một lần thực mục. Giá chiếc đĩa nhiều lắm cũng chỉ một cây vàng, theo suy đoán chủ quan, đã quá lời, huống chi tới 7 cây, cho một giao dịch thành công chiếc đĩa men ngọc, kém xa chiếc đĩa của anh.
Bà cụ già vẫn bán tin, bán nghi nói với anh: "Chiều nay, anh có nhà, tôi cho người sang xem".
4 giờ chiều, một cụ ông trong bộ đồ trắng toát từ mũ, áo, quần, đến giầy tất tìm đến chợ Sặt - nơi anh bạn tôi cư trú. Cụ giới thiệu là phu quân của cụ bà phố cổ sang xem đĩa.
Anh rút chiếc đĩa trong đống quần áo cũ nát bọc ngoài. Cụ lật úp xuống mặt sàn nhà, xoay nhiều vòng tròn và nhận ra rằng, kỹ thuật tạo hình và nung chiếc đĩa này đúng là của lò "quan dụng", khiến đĩa không bị cong vênh, khít khịt giữa mặt sàn và miệng đĩa. Lại một lần nữa cụ ông dạy cho anh nhận biết tiêu chuẩn gốm sứ lò quan.

Cách sắp đặt theo cổ đồ


Cụ trả anh 7 cây vàng, như chiếc đĩa đã mua trước. Anh khăng khăng đòi 8 cây, xin không mặc cả.
Giao dịch không thành, cụ ông ra về và có thêm 3 lần nữa đến xem cùng cậu con trai cả, nhưng vẫn một mực với giá 7 cây. Sau này, anh bạn tôi mới hay, nguyên tắc của gia đình ấy, nếu mua được với giá bà cụ đã định, thì phần trăm sẽ được trả. Cụ ông có tiền đi nhảy đầm, ăn sáng, uống cà phê. Chiếc đĩa lưu trú tại nhà anh tới hơn một năm sau.
Rồi một ngày đẹp trời, hai thanh niên nam nữ tìm đến nhà xem chiếc đĩa. Giá lúc đó đã lên tới 11 cây vàng, không mặc cả. Qua năm lần, bảy lượt đi lại, cuối cùng, 11 cây vàng đã được thống nhất. Để mua được chiếc đĩa 11 cây vàng, không chỉ có hai người, mà cả năm người tháo nhẫn, khuyên tai, tiền mặt ... mới đủ sức chung mua. Giờ đây, 11 cây vàng không đáng là bao, nhưng thời ấy, anh mua được ba ngôi nhà phố cổ. Một trong ba ngôi nhà ấy, tôi thường đến thăm ở phố Hàng Bè, Gần đây, tôi có nhiều lần sang thăm và làm việc với Bảo tàng Trung Quốc ở Quảng Tây và Thượng Hải.
Ông Giám đốc Bảo tàng Quảng Tây - bạn thân tôi, dẫn vào kho, cho xem chiếc đĩa thời Nguyên mà bảo tàng ông mới mua được với giá gần một triệu đô la, kích thước chỉ 30cm và hoa văn trang trí không phải là đồ cung đình, nội phủ. Còn đến với Bảo tàng Thượng Hải, người quản thủ phòng trưng bày sứ xanh - trắng thời Nguyên sắp khai trương, nói với tôi rằng, họ đã huy động cả nước Trung Quốc rộng lớn mới đủ gần 300 tiêu bản phục vụ cho phòng trưng bày này. Sứ xanh - trắng thời Nguyên hiếm hoi hơn cả kim cương, thiên thạch, bởi triểu đại này ngắn ngủi, bởi công nghệ sản xuất đồ sứ xanh - trắng mới được du nhập vào Trung Nguyên từ những đội quân viễn chinh cưới trên lưng ngựa, vươn tới những vùng xa xăm của thế giới Hồi giáo, đưa màu lam hồi về với chính quốc để sản xuất thử nghiệm sứ xanh - trắng có màu lam tươi trong của người Hôi giáo, tạo dựng nên bước khởi đầu của dòng gốm này trong lịch sử phát triển đồ gốm sứ Trung Hoa, khiến cho dòng gốm ấy ở thời kỳ đầu ít ỏi như những kiệt tác. Chúng là đồ sứ đắt nhất trong phổ hệ gốm sứ thế giới mọi thời đại.
Đắt như vậy, hiếm như thế mà tại sao ở Hiệp An, Kinh Môn (Hải Dương) có tới 6, 7 tiêu bản, trong đó có cả đĩa, ấm vô cùng đặc biệt. Khảo sát gần đây của các đồng nghiệp Viện Khảo cổ ở vùng đất này, cho hay, Nhà vua và Vương triều Trần đã có thời gian dời Thăng Long về vùng đất này để thực hiện những cuộc kháng chiến chống Nguyên lâu dài và gian khổ. Vương triều ấy đã chôn những món đồ quý để cất dấu, thực hiện cuộc kháng chiến, khi quân Nguyên đánh chiếm. Kho báu đã được đội thủy lợi tìm thấy qua 7 thế kỷ cất dấu và người bạn vong niên của tôi là một trong số ít "quý nhân" được "quý vật" tìm đến, khi anh chưa có một chút hiểu biết gì về đồ sử xanh - trắng thời đại này.

Phạm Quốc

Top